Ambum Minh Trường Nhã Thy

Thương Lắm Mình Ơi Vol1!

Ambum Lê Tứ - Hà Như

Tuyển Tập các trích đoạn, Tân cổ, Vọng Cổ hay nhất!

Friday, December 19, 2014

Tổng Hợp Kiến Thức Tài Tử Nam Bộ

1/ HỎI : Hãy định nghĩa tài tử là gì?

ĐÁP: Tài tử là người có tài. Tài ở đây là giỏi về một môn hoặc một số môn nghệ thuật nào đó. Tài tử dùng nghệ thuật để di dưỡng tâm hồn, để nói lên cái đúng, cái hay, cái đẹp với chính mình và với người khác.

2/ HỎI: Hãy phân tích sự giống nhau và sự khác nhau giữa âm nhạc tài tử Nam bộ và nhạc cải lương.
ĐÁP: Cái giống nhau là: tài tử và cải lương đều sử dụng chung các điệu thức trong dòng nhạc tài tử Nam bộ.
- Cái khác nhau là: tài tử là ca nhạc thính phòng. Cải lương là nghệ thuật sân khấu ( nhạc tài tử phát triển tạo ra cải lương )
- Ca tài tử đờn vô trước, ca vô sau. Cải lương ca vô trước.
- Tài tử: đờn cũng như ca, dùng sự êm ả, sâu sắc, tế nhị để diễn tả giọng ca và ngón đờn là chính. Cải lương dựa vào nhân vật, biểu diễn thể hiện tính cách nhân vật nên cường độ, tiết tấu ca, đờn cũng khác hơn theo tình cảm hỉ, nộ, ái, ố bộc lộ mạnh hơn.
- Về bài bản tài tử Nam bộ thường ca trọn bài, còn cải lương sử dụng từng đoạn cần thiết, có khi sử dụng giữa bản nhạc hoặc những câu cuối bản nhạc cho phù hợp kịch tính và tính cách nhân vật.

3/ HỎI: Nhạc tài tử Nam bộ ngoài 20 bài Tổ và nhạc “ cải tiến”, còn có những “ môn nhạc” nào khác nữa?
ĐÁP: Nhạc tài tử Nam bộ ngoài 20 bài Tổ và nhạc “ cải tiến”, còn có những “ môn nhạc” sau:
- Bản nhỏ cổ điển như: Bình bán vắn, Lưu thủy đoản, Kim tiền huế v.v…
- Môn cổ nhạc canh tân từ nhạc sân khấu của Mộng Vân được tài tử sử dụng như: Giang Tô, Kiều nương v.v…
- Về Lý: ( còn gọi là ca nhạc dân gian ): Lý con sáo, Lý giao duyên v.v…
Tóm lại về bài bản trước kia và hiện nay giữa tài tử và cải lương đều sử dụng chung. Song các bản nhỏ, cổ nhạc canh tân, lý (dân ca) thì cải lương sử dụng nhiều hơn…

4/ HỎI: Trong dàn nhạc tài tử có người ca thì khi lấy dây, cao độ của âm Hò dựa vào cái gì để lấy dây?
ĐÁP: Trong dàn nhạc tài tử có người ca thì khi lấy dây, cao độ của âm Hò dựa vào người ca để lấy dây. Có vậy đờn ca mới hay …

5/ HỎI: Hai từ “ đờn thúc” , “ đờn hưỡn” có nghĩa gì trong diễn tấu nhạc?
ĐÁP: “ Đờn thúc” là tốc độ nhịp nhanh, “ đờn hưỡn” là đờn lơi hơi.

6/ HỎI: Bốn điệu thức NHẠC TÀI TỬ Nam bộ thể hiện tính chất khác nhau như thế nào?
ĐÁP: : Bốn điệu thức NHẠC TÀI TỬ Nam bộ gồm:3 Nam, 6 Bắc, 7 Bài, 4 Oán, đều có tính chất nhac khác nhau như:
- 6 Bắc: tính chất VUI, HÙNG, DỨT KHOÁT . Song cũng có khác chút ít như Cổ bản thì ôn hòa, nhẹ nhàng mà kiên định như Bình bán chấn, ung dung-êm đềm như Lưu thủy trường
- 7 Bài Lể: tính chất HÙNG HỒN, NGHIÊM TÚC, UY NGHI. Song có khác chút ít như Xàng xê có thêm chất Bi, Hùng.
- 3 Bài Nam: Hưỡn đãi, thư thả, đường hoàng, tế nhị. Song Nam xuân vui lâng lâng, Nam Ai buồn não nuột, Nam đảo kiên định cứng rắn hơn.
- 4 Oán: Buồn đau, quân tử, sâu sắt, tế nhị. Song Giang nam có tính chất uất ức, oán trách hơn.

7/ HỎI: Người ca phải làm gì khi ca 1 bài nào đó trong 4 điệu thức nhạc tài tử Nam bộ với tính chất của chúng?
ĐÁP: Khi tiếp xúc với bài ca nào đó, thì người ca phải biết nó nằm trong điệu thức nào? Tính chất nó ra sao? Để thể hiện cho đúng, không bị lai. Tránh lấy bản vui Tây Thi ca cho các bản thuộc bộ môn khác như 7 bài Lễ. Hoặc lấy giọng mùi của vọng cổ ca cho các bản buồn khác như Trường tương tư, hay các bản Oán, Nam ai (đây là nhược điểm thường gặp của người mới học ca tài tử)
8/ HỎI: Xuất xứ cây đờn ghi ta Việt Nam và tính năng tác dụng của nó?
ĐÁP: Cây đờn ghi ta xuất xứ ở nước Tây Ban Nha ( còn gọi là Tây Ban cầm ), được người Việt Nam móc phím lõm để đờn tài tử. Đầu tiên, có người nói là do thầy giáo Tiên ở Rạch giá dùng đờn Măng đô lin tập đờn vọng cổ. Nên sau đó mới dùng đến ghi ta móc phím ( vì đờn măng đô lin và ghi ta giống nhau về sắp phím)
- Cây đờn ghi ta có tiếng kêu trong sắc bén, vang xa. Có âm điệu phong phú. Về tác dụng thì rất rộng, có hòa tấu nhiều cây, nó vẫn nổi trội, nếu một mình nó vẫn đệm cho ca được dễ dàng.
Xưa đờn kìm là chính, ngày nay xu hướng chung cây đờn ghi ta phím lõm là nhạc cụ chính của sân khấu cải lương…

9/ HỎI: Vì sao phải đờn và ca đúng theo nguyên tác bản Dạ cổ hoài lang? Nếu đờn và ca sai sẽ như thế nào? Ví dụ vài chỗ đờn sai, ca sai?

ĐÁP: Phải đờn và ca đúng theo bản gốc Dạ cổ hoài lang vì tôn trọng tính lịch sử của tác phẩm lúc nó ra đời. Hơn nữa nguyên tác rất đúng với luật NHẠC và VĂN HỌC nên không tự tiện đờn ca theo ý mình.
- Ví dụ sai về Nhạc: câu 5,11 và 19 dứt XÀNG, nhưng có nơi lấy chữ nhạc vọng cổ nhịp 16, 32 mà đưa vào như: câu 5 dứt XỀ, câu 11 và 19 dứt HÒ, như vậy là sai nhạc…Về lời ca: câu 2 “ Báu kiếm sắc PHÁN…có người ca sắc PHONG. Câu 3: Vào ra luống trông tin NHẠN, có người ca NHÀN.v.v…làm cho ý nghĩa hay của nguyên tác bị sai lệch, mất hay về văn học.

10/ HỎI: Bài Dạ cổ hoài lang và vọng cổ thuộc loại nhạc gì? Tính chất của nó ra sao?
ĐÁP: Bài Dạ cổ hoài lang và vọng cổ ngoài 4 điệu thức: Bắc, Hạ, Nam, Oán…mà nó thuộc loại Oán đặc biệt ( vì oán là chính, song có âm hưởng hơi Nam, Bắc trong thân bài)
(Lời người viết: có người cho vọng cổ thuộc hơi PHA, Có nghĩa là pha trộn nhiều hơi khác nhau )
- Tính chất nhạc vọng cổ: chủ yếu là buồn. Song không não nùng như Nam ai, uất hận như Giang nam. Nó mang tính vừa đau buồn, vừa trỗi dậy, phân trần và có tính lạc quan.

11/ HỎI: Muốn ca cho đúng nội dung bài ca và hay, khi tiếp xúc với bài ca, người ca phải tìm hiểu và luyện tập bài ca như thế nào?
ĐÁP: Người ca muốn ca đúng và hay khi tiếp xúc bài ca phải chú ý
- Tìm hiểu nội dung bài ca buồn hay hận v.v…Nhân vật chủ của bài ca là ai? Thuộc giới nào, giai cấp nào? Lời ca của bài ca nhiều hay ít, chấm phẩy theo luật văn phạm rõ ràng những chữ sai phải sửa v.v…
- Phân nhịp theo số chữ, đúng luật nhạc, phù hợp thể hiện tình cảm theo nội dung bài ca và đúng luật văn phạm
- Luyện tập ca và chỉnh lại nhịp không phù hợp để học thuộc lòng

12/ HỎI: Khi ca phải có phương pháp gì bảo đảm ca đều nhịp và hay?
ĐÁP: Phải giữ nhịp đúng với khi tập. Miệng ca tai nghe đờn để khớp với trường độ nhịp của người đờn. Bản thân phải tự luyện, tự nhịp theo lời ca của mình một cách chủ động có kết hợp với nhịp đờn, không nên phó thác và chạy theo đuôi người đờn.

13/ HỎI: Khi ca phải phát âm thế nào cho đúng và có hiệu quả?
ĐÁP: Điều cần yếu là phải phát âm rõ chữ, tròn âm, không sai chính tả ( nhất là chữ R,TR,S )
- Giọng ca phải vận dụng luật: bổng, trầm, khoan, nhặt theo nội dung bài ca ( nếu ca vọng cổ phải thêm luật: du dương )
- Hơi ca phải dài, đủ sức ca trọn một mệnh đề, câu văn không đứt quãng, dứt câu ca không bị hụt hơi.

14/ HỎI: Khi chuẩn bị ca cần làm động tác gì trước nhứt với dàn đờn?
ĐÁP: Phải nghe, hoặc nhờ đờn đánh lại giai điệu để tìm chữ HÓ và lấy hơi cho đúng chữ HÒ, đảm bảo ca không lạc hơi ( nếu dây đờn không hợp giọng ca như cao quá, thấp quá thì sửa lại)

15/ HỎI: Vì sao người ca bài vọng cổ, mới vô ca đầu câu, xuống chữ HÒ thì người nghe vỗ tay hoan hô?
ĐÁP:Người ca vọng cổ khi xuống HÓ, đã được vỗ tay có nhiều lý do:
- Lời văn hay
- Giọng ca ngọt ngào
- Biết nhả chữ nhặt khoan, trầm bổng rất xúc cảm người nghe
Ngoài việc vỗ tay vì phép lịch sự thưởng công lao động của người ca. Song nếu ca rất hay hoặc rất dở thì tiếng vỗ tay sẽ khác ngay ( sôi nổi kéo dài hay lẹt đẹt chiếu lệ )

16/ HỎI: Khi sắp ca bất cứ bản nhạc gì cũng chỉ lấy cao độ HÒ, nhưng khi ca những bài không phải vọng cổ thì phải làm gì để vô đầu bài ca ấy cho đúng?
ĐÁP: Chữ HÒ là âm chủ của nhạc tài tử. Khi nắm được cao độ HÓ thì tìm trong xứơng âm hệ 5 cung: Hò, Xư, Xang, Xê, Cống ( cả 2 âm phụ Y và PHAN ) mà áp dụng cho chữ nhạc vô đầu bài mình sắp ca. Ví dụ: Lưu thủy trường lấy hơi HÒ, Phú lục lấy hơi U, Bình bán chấn lấy hơi Xang, Cổ bản lấy hơi Xê v.v…
17/ HỎI: Theo sự hiểu biết của bạn thì những nghệ sĩ, nhạc sĩ nổi danh đờn ca vọng cổ từ khi có bài vọng cổ nhịp 8 đến nay gồm có những ai?

ĐÁP: Các nghệ sĩ, nhạc sĩ, nghệ sĩ đờn ca vọng cổ nổi danh từ 1935 đến nay gồm các vị như sau: Lư Hòa Nghĩa, Bảy Cao, Hồng Châu, cô Tư Sạng, Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Thành Công, Thành Được, Thanh Nga…
- Nghệ sĩ Năm Nghĩa, tên thật là Lư Hòa Nghĩa ở Bạc Liêu, lên Sài Gòn ca vọng cổ đầu tiên thu đĩa hát ASIA bài “ Văng vẳng tiếng chuông chùa”, “ Quằng quại gánh nợ đời”, với giọng ngâm dài đầm ấm như xâu chuỗi, âm thanh êm ả, trữ tình, độc đáo.
- Nghệ sĩ Bảy Cao ca vọng cổ “ Viếng mồ bạn”, với giọng ca nam cao bay bổng và sắc sảo rất ngọt ngào.

18/ HỎI: Ai là người đầu tiên sáng tác ra bộ môn cổ nhạc canh tân và giá trị của bộ môn này đối với nhạc cải lương ra sao?
ĐÁP: Soạn giả và đạo diễn Mộng Vân là người đầu tiên sáng tác ra cổ nhạc canh tân với nguyên nhân như sau:
Ông Mộng Vân quê ở Bạc Liêu, là soạn giả, đạo diễn và là chủ gánh hát cải lương cùng tên Mộng Vân. Vào khoảng năm 1940- 1945 loại tuồng Tàu đã không còn ăn khách nữa, ông bèn sáng tác ra hình thức cải lương kiếm hiệp. Dựa truyện cổ La Mã soạn ra cải lương, nhân vật trong vở kiếm hiệp này lạ mắt: mang mặt nạ, đấu dao găm, kiếm.
Các bản nhạc cổ điển không phù hợp tính cách nhân vật kiểu này, nên ông soạn ra lời ca, ông ca cổ nhạc theo kiểu của nhân vật, ông nhờ hai nhạc sĩ đang đờn cho gánh hát của ông là Út Trong và Hai Thơm ký âm theo lời và giọng nhạc để làm thành bản nhạc và đặc tên bản. Tạo ra 1 số bản đủ cho vở kiếm hiệp đó và nhiều vở khác tạo thành nhiều bản nhạc mới, rất ăn khách.
Các đoàn hát cải lương khác học tập làm theo. Tạo thành 1 bộ môn Bắc mới gọi là CỔ NHẠC CANH TÂN có hàng trăm bản phục vụ cho tuồng kiếm hiệp. Ví dụ: tuồng “ kiếm sĩ dơi” v.v…cho đến nay, nhiều bản nhạc cổ nhạc canh tân vẫn còn sử dụng trong sân khấu cải lương và đờn ca tài tử Nam bộ.

19/ HỎI: Những ngôi sao trong phong trào đờn ca tài tử Nam bộ trong tỉnh Bạc Liêu từ những năm 1919- 1975 là những ai?
ĐÁP: Tỉnh Bạc Liêu có các ngôi sao trong phong trào đờn ca tài tử Nam bộ từ những năm 1919- 1975 gồm có: Ông Nhạc Khị ( Lê Tài Khị), Cao Văn Lầu, Mười Khói, Năm Nghĩa ( Lư Hòa Nghĩa), cô Ba Vàm Lẻo, Mộng Vân, Hai Thơm, Trịnh Thiên Tư.

20/ HỎI: Ai sáng tác bản Dạ cổ hoài lang, sáng tác vào năm nào? Bạn hãy ca 16 câu, nguyên tác bài Dạ cổ hoài lang.
ĐÁP: Nhạc sĩ Cao Văn Lầu quê ở Bạc Liêu là người sáng tác bài Dạ cổ hoài lang vào năm 1919.

DẠ CỔ HOÀI LANG

1- Từ là từ phu tướng
2- Báo kiếm sắc phán lên đàng
3- Vào ra luống trông tin nhạn
4- Năm canh mơ màng
5- Em luống trông tin chàng
6- Ôi gan vàng thêm đau
7- Đường dầu xa ong bướm
8- Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
9- Còn đêm luống trông tin bạn
10- Ngày mõi mòn như đá vọng phu
11- Vọng- phu vọng luống trông tin chàng
12- Lòng xin chớ phụ phàng
13- Chàng là chàng có hay
14- Đêm thiếp nằm luống những sầu Tây
15- Biết bao thuở đó đây xum vầy
16- Duyên sắc cầm đừng lac phai
17- Là nguyện cho chàng
18- Đặng chữ an bình an
19- Trở lại gia đàng
20- Cho én nhạn hiệp đôi.


THAY LỜI KẾT

Chúng ta rất tự hào và biết ơn các vị tiền bối đã có công sáng lập ra “ MỘT LÂU ĐÀI NGHỆ THUẬT ĐỒN CA TÀI TỬ NAM BỘ “ nguy nga để chúng ta thừa hửơng. Và rất biết ơn những nhạc sĩ, nghệ sĩ, nghệ nhân đi trước đã xứng đáng là vai trò rường cột; Người thì sáng tác thêm bản nhạc, bài ca; Người thì sáng tạo ra thêm nhiều nhạc khí; Người thì nghiên cứu khoa học, tìm ra “ nguyên lý- niêm luật, quy tắc “…cho nghệ thuật có đủ hành trang bước vào rừng hoa nghệ thuật không đến nỗi bỡ ngỡ.
Song nghệ thuật là cái ĐỈNH KHÔNG CÙNG. Chúng ta cùng nổ lực tìm hiểu và nâng lên cho mình một sự hiểu biết cao hơn để tiếp tục sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của tiền nhân. Muốn được vậy, chúng ta phải nắm chắc những gì đã có: Học và trau chuốt bài bản đã có, thông hiểu các kiến thức đã có để làm đuốc soi sáng cho thực hành.
Hãy chấm dứt quan niệm làm nghệ thuật với lòng đam mê nhất thời.
Hãy cũng cố nhận thức làm nghệ thuật với lý tưởng cao đẹp.
Để thay lời kết, hy vọng rằng khi gấp sách lại, mỗi nghệ nhân đờn ca tài tử Nam bộ đều biết “ CHÚNG TA SẼ LÀM GÌ ? “ .

VỀ NHẠC KHÍ

1/ HỎI: Đờn “ Độc huyền” còn được gọi là đờn gì? Tại sao?
ĐÁP: Đờn Độc huyền còn được gọi là đờn bầu. Vì đờn bầu xưa dùng vỏ trái bầu già, khô, gắn vào đầu dây để làm cộng hưởng.

2/ HỎI: Thường thường trong hòa tấu nhạc tài tử, ai là người giữ song loan?
ĐÁP: Thường thường trong hòa tấu nhạc tài tử, người đờn kìm giữ song loan. Tuy nhiên, người đờn nhạc cụ khác nếu giỏi hơn cũng có thể giữ song loan.

CÂU HỎI PHỤ: Ngày xưa, trong cuộc chơi đờn ca tài tử Nam bộ có nhiều nhạc sĩ mà không ai chịu nhận giữ song loan là tại sao?

ĐÁP: Song loan có vai trò điều khiển cuộc đờn ca. Nhưng ngày xưa thầy với thầy hay thử tài nhau, nên cầm song loan rất nguy hiểm, vừa lo nhớ bản đờn dài, vừa gõ song loan, trong khi cây đờn kia đờn mắc mỏ để thử tài…nếu không nói là muốn gài bẫy phá nhau. Vì vậy rất lâu, ép nài mãi mới có người chịu giữ song loan…

3/ HỎI: Trong âm nhạc tài tử Nam bộ, đờn kìm có mấy phím, đờn tỳ bà có mấy dây?
ĐÁP: Đờn kìm có 8 phím, đờn tỳ bà có 4 dây.

4/ HỎI: Đờn tranh còn được gọi là đờn gì?
ĐÁP: Đờn tranh còn được gọi là đờn thập lục.

5/ HỎI: Dây Rạch giá trên đờn guitar phím lõm thuận lợi nhất khi diễn tấu bài gì? Tại sao?
ĐÁP: Dây Rạch giá trên đờn guitar phím lõm thuận lợi nhất khi diễn tấu bài vọng cổ, không thuận lợi khi đờn bài khác vì nó có 1 dây lấy chữ nhạc U.

6/ HỎI: Đờn tranh 16 dây, khi được tăng số lượng dây lên 17 dây, 21 dây thì âm vực nào của nó được mở rộng? Ai là một trong những người đề xướng và ủng hộ việc làm này trong những ngày đầu?
ĐÁP: Đờn tranh 16 dây, khi tăng số lượng dây lên 17 dây, 21 dây…thì âm vực trầm được mở rộng. Ông Vĩnh Bảo là một trong những người đề xướng và ủng hộ việc làm này.

7/ HỎI: Hãy nói sự khác nhau giữa đờn cò và đờn gáo về hình thức và cách lấy dây như thế nào?
ĐÁP: Đờn cò và đờn gáo có những điểm khác nhau cơ bản về hình thức và cách lên dây như sau:
- Về hình thức: đờn gáo dùng gáo dừa làm cộng hưởng, đờn cò dùng ống gỗ làm bầu cộng hưởng. Đờn gáo dùng gáo dừa sẵn có (?) làm mặt đàn, đờn cò dùng da trăn làm mặt đờn.
- Về cách lên dây: đờn cò lên dây “ Xàng-Liu”. Đờn gáo thường lên dây “ Hò-Xê”

8/ HỎI: Tiếng song loan có vai trò trong dàn nhạc tài tử Nam bộ như thế nào?
ĐÁP: Tiếng song loan giữ vai trò điều khiển trong dàn nhạc tài tử, với những tên gọi như: song loan gài, song loan báo, song loan dứt, song loan hồi. Cụ thể như:
- Song loan gài: là cho biết sắp vô bài
- Song loan báo: là cho biết sắp dứt câu nhạc
- Song loan dứt ( còn gọi là song loan nhì): cho biết dứt câu nhạc
- Song loan hồi ( còn gọi là song loan nhứt): cho biết sắp hết bài nhạc

9/ HỎI: Từ “ Tỳ bà” là phiên âm từ từ nào?
ĐÁP: Từ “ Tỳ bà” phiên âm từ từ : PIPA. Đờn Tỳ bà còn được người Việt Nam gọi là “Hồ cầm” là đờn của người Hồ.

10/ HỎI: Ngũ cung, thất thanh trong âm nhạc tài tử Nam bộ là gì?
ĐÁP: Hò, Xừ, Xang, Xê, Công. Thất thanh là 7 tiếng nhạc có cao độ từ thấp đến cao, gồm: Hò, Xừ, Y, Xang, Xê, Công, Phan, (Liu)

11/ HỎI: Khi diễn tấu các bài Oán, ống tiêu và ống sáo loại nào nghe hay hơn? Tại sao?
ĐÁP: Diễn tấu các bài Oán, ống tiêu nghe hay hơn ống sáo vì ống tiêu có âm sắc và âm vực phù hợp với chất trữ tình của các bài Oán.

12/ HỎI: Những “con nhạn” trên đờn tranh có nên gắn cố định không?
ĐÁP: Những “con nhạn” trên đờn tranh không nên gắn cố định, phải dể dàng di chuyển được trên mặt đờn tranh, để thay đổi cao độ của từng dây đờn cho phù hợp với yêu cầu của bài nhạc và của người diễn tấu.

13/ HỎI: Trong âm nhạc tài tử Nam bộ có sử dụng nhạc khí gõ, đôi khi có sử dụng nhạc khí vỗ như trống cơm để làm gì?
ĐÁP: Âm nhạc tài tử Nam bộ có sử dụng nhạc khí gõ như song loan để dùng cho hầu hết các bài nhạc tài tử Nam bộ. Nhạc khí vỗ như trống cơm có thể dùng cho các bản nhạc: lớp Trống xuân, Mái ai, và các bài nhạc lễ.
14/ HỎI: Đờn kìm có mấy kiểu dây?
ĐÁP: Đờn kìm có 3 kiểu dây : dây Bắc, dây Nam (còn gọi là dây Oán) và dây Tố Lan.

15/ HỎI: Cây đờn Lý do ai sáng tác?
ĐÁP: Cây đờn Lý do ông Phạm Văn Lý sáng tác

16/ HỎI: Cây đờn Tam có mấy dây, bao nhiêu phím? Mặt đờn làm bằng vật liệu gì?
ĐÁP: Cây đờn Tam có 3 dây, không có phím. Mặt đờn được làm bằng da trăn.

17/ HỎI: Trên dây Hò Nhứt, 4 dây đờn Tỳ bà có những tên nhạc gì?
ĐÁP: Trên dây Hò Nhứt, 4 dây đờn Tỳ bà có những tên nhạc như:
Dây 4 tên Hò, dây 3 tên Xang, dây 2 tên Xê, dây 1 tên Liu.

18/ HỎI: Nhạc khí có hình dáng “ lưng quy, cổ phượng” đó là đờn gì?
ĐÁP: Nó là đờn Tỳ bà, là nhạc khí của người Hồ ( còn gọi là người Mông Cổ )

19/ HỎI: Trong hòa tấu nhiều nhạc khí như: kìm, cò, tranh, bầu, sáo, tam, tỳ bà. Dàn nhạc phải lấy dây theo cây đờn nào?
ĐÁP: Trong hòa tấu nhiều nhạc khí như: kìm, cò, tranh, bầu, sáo, tam, tỳ bà. Dàn nhạc phải lấy dây theo ống sáo, vì ống sáo có cao độ của các cung nhạc cố định.

CÂU HỎI PHỤ: Ngoài ống sáo có chữ nhạc cố định, vậy trường hợp hòa tấu chỉ có đờn kìm, ghi-ta, độc huyền, tranh thì lấy dây theo cây đờn nào?

ĐÁP: Phải dựa vào đờn tranh vì đờn tranh nhiều dây khó lấy dây hơn.

20/ HỎI: Cây đờn cò muốn ém bớt tiếng phải làm gì?
ĐÁP: Để âm lượng đờn cò nhỏ hơn, có 2 cách ém tiếng:
- Dùng 1 vật bịt vào ống đờn
- Dùng ngón cái chân phải đè vào ngựa đờn hay dùng đầu gối kẹp vào ngựa đờn.

21/ HỎI: Trong dàn nhạc tài tử, nhạc khí nào có tầm âm rộng nhất?
ĐÁP: Trong dàn nhạc tài tử, đờn bầu có tầm âm rộng nhất. Vì trong lúc diễn tấu, đờn bầu có thể hạ thấp và nâng cao độ căng của dây đến mức giới hạn nhất định, thêm vào đó số vị trí của điểm phát ra âm bồi là 1 số có thể xem là rất lớn, số vị trí này tùy thuộc vào trình độ của người diễn tấu.

22/ HỎI: Chữ “Tịch” trong đờn kìm tạo ra bằng cách nào?
ĐÁP: Chữ “Tịch” trong đờn kìm tạo ra bằng cách: Ngón bấm vào cung đờn, nơi chữ nhạc “Tịch” sẽ phát ra. Tay khảy tạo chữ nhạc. Tiếng nhạc vừa được phát ra, lập tức dùng ngón tay áp út của tay khảy bịt nhanh vào dây đờn. Như vậy, tiếng nhạc vừa được phát ra chưa tròn thì bị ngắt ngay tức khắc, tạo ra tiếng “ Tịch”

23/ HỎI: Nhạc khí đến Việt Nam từ Hoa Kỳ và được đưa vào nhạc tài tử Nam bộ là nhạc khí gì? Nó có ảnh hưởng đến nhạc sĩ Việt Nam như thế nào?
ĐÁP: Nhạc khí Hạ Uy Di từ Hoa Kỳ đến Việt Nam được đưa vào nhạc tài tử Nam bộ. Một vài nhạc sĩ nổi danh nhờ biểu diễn nhạc khí này như: Thanh Kim, Hoàng Ân…

24/ HỎI: Hãy so sánh sự khác nhau về thùng đờn, cần đờn, phím đờn giữa đờn kìm và đờn đoãn.
ĐÁP: Về sự khác nhau giữa đờn kìm và đờn đoãn, như sau:
- Thùng đờn kìm tròn, dẹp giống đờn đoãn nhưng lớn hơn
- Cần đờn kìm dài hơn cần đờn đoãn
- Phím đờn kìm cao hơn phím đờn đoãn. Phím đờn kìm gắn theo hệ thống 5 âm: Hò,Xư,Xang,Xê,Công,Liu. Phím đờn đoãn gắn theo hệ thống 7 âm: Hò,Xư,Y,Xang,Xê,Công,Phan,Liu
25/ HỎI: Năm dây đờn ghi ta Việt Nam, lấy theo hệ thống dây lai, tính từ thấp đến cao gồm có những chữ nhạc gì?
ĐÁP: Dây lai ghi ta thì dây 5 là chữ nhạc Hò, dây 4 là chữ Xang, dây 3 là chữ Liu ( Hò), dây 2 là chữ Xê, dây 1 là chữ Liu. ( Đây là nói đờn các bài bản theo dây Hò tư. Còn dây lai đờn vọng cổ có 5 loại Hò: Hò nhất, Hò nhì, Hò ba, Hò tư, Hò năm ) .

26/ HỎI: Trong hệ thống các loại dây đờn ghi ta Việt Nam như: dây Ngân Giang, dây Bán Ngân Giang, dây Lai, dây Tứ Nguyệt, dây Sài Gòn, dây Rạch Giá, hệ thống dây nào cũng thuận lợi khi đờn vọng cổ phải không?

ĐÁP: Dây nào cũng thuận lợi cả. Tuy nhiên khi chuyển từ Hò này sang Hò khác thì dây Lai là thuận lợi hơn hết.

27/ HỎI: Dây Hò tư trên hệ thống dây Bắc của đờn kìm còn gọi là dây gì?
ĐÁP: Còn gọi là dây Quả Phụ. Nó gắn liền với tên bản nhạc Quả Phụ Hàm Oan.
( Ghi chú của người viết: dây này còn một tên nữa là: dây Bắc Oán, gọi theo thầy Út Du )

28/ HỎI: Đờn ghi ta Việt Nam được gắn phím theo hệ thống gì?
ĐÁP: Theo hệ thống 12 bán cung đều, còn gọi là thập nhị bán cung. Ô phím được khoét lõm xuống so với ô phím của Tây Ban cầm.

29/ HỎI: Kỹ thuật “phi tim” (vê hay tremolo) được sử dụng trong nhạc tài tử Nam bộ áp dụng cho nhạc khí nào?
ĐÁP: Kỹ thuật ”phi tim” đặc biệt trong các nhạc khí: đờn tam, đờn sến, đờn đoãn thì dùng nhiều và phù hợp hơn cả.

30/ HỎI: Đờn kìm còn có tên gọi nào khác không?
ĐÁP: Đờn kìm còn có tên gọi là đàn Nguyệt, Vọng Nguyệt cầm, Nguyệt cầm, đàn Song Vận, Quân Tử cầm.

31/ HỎI: Đờn Tỳ bà được gắn phím hệ thống 7 cung, bát âm là gì?
ĐÁP: 7 cung là: Hò, Xư, Y, Xang, Xê, Công, Phan, (Liu)
Bát âm là: Kim, Thạch, Thổ, Ty, Cách, Mộc, Trúc, Đào.

32/ HỎI: Thất tuyệt trong dàn nhạc tài tử Nam bộ gồm những nhạc khí nào?
ĐÁP: Gồm: đờn kìm, đờn cò, đờn tranh, đờn bầu, đờn tam, đờn tỳ bà, ống tiêu.

33/ HỎI: 4 nhạc khí tiêu biểu trong dàn nhạc tài tử Nam bộ là gì?
ĐÁP: : 4 nhạc khí tiêu biểu trong dàn nhạc tài tử Nam bộ là: đờn kìm, đờn cò, đờn tranh, đờn bầu ( Lời người viết: còn gọi tắt là Kìm,Cò,Tranh,Độc )
Đặc điểm âm sắc của các nhạc khí:
- Đờn kìm: có âm sắc mịn của dây nylon, không vang xa, gọn, dứt khoát, tiếng ấm tròn dễ tìm thấy trong khi hòa tấu.
- Đờn cò: Với cung vỹ nên âm sắc mềm mại, uyển chuyển, ngân dài tùy theo tay cung.
- Đờn tranh: âm sắc trong, bén nhọn, mát tươi ( vì dây kim loại )
- Đờn bầu: âm sắc thánh thót du dương, uyển chuyển vì được tạo ra bởi BỒI ÂM.

34/ HỎI: Lòng bản của 1 bài nhạc tài tử thường được viết cô đọng theo cây đờn nào?
ĐÁP: : Lòng bản của 1 bài nhạc tài tử thường được viết cô đọng theo cây đờn kìm, vì đờn kìm có hệ thống 5 cung cố định, âm vực vừa đủ để ghi giai điệu, tầm âm trong khoảng giọng người, có thể xướng âm được và tính khái quát trong diễn tấu cao.

35/ HỎI: Phương tiện dùng để gõ các nhịp chính trong dàn nhạc tài tử Nam bộ, được gọi là gì? Cấu trúc của nó như thế nào?
ĐÁP: Phương tiện dùng để gõ các nhịp chính trong dàn nhạc tài tử Nam bộ được gọi là song loan.
Song loan được chế tạo bằng loại gỗ quý, thường có hình tròn, đường kính khoảng 06 phân, theo vòng tròn được cắt một đường rộng vào khoảng 2/3 đường tròn, phần trên đường rỗng là mặt tròn dùng để gõ, phần dưới đáy để làm nền đặt song loan. Nối mặt dưới song loan là 1 vòng cung bằng thép mỏng, đầu thanh thép gắn miếng gỗ nhỏ để gõ vào song loan.

BÀI BẢN NHẠC TÀI TỬ NAM BỘ

Hỏi Đáp Kiến Thức Tài Tử Nam Bộ Sưu tập & biên soạn: LÂM TƯỜNG VÂN - HUỲNH KHÁNH
   
PHẦN HAI

VỀ BÀI BẢN NHẠC TÀI TỬ NAM BỘ


1/ HỎI: Nhạc tài tử Nam bộ có bao nhiêu bài bản chính, những bản ấy gọi chung là gì? Có bao nhiêu điệu thức? Mỗi điệu thức gồm bài bản gì?

ĐÁP: Nhạc tài tử Nam bộ có 20 bài bản chính, được gọi là 20 bài bản Tổ. Có 4 điệu thức gồm:
- 3 Nam: Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo (Đảo Ngũ Cung)
- 6 Bắc: Lưu Thủy Trường, Phú Lục, Xuân Tình, Bình Bán, Tây Thi, Cổ Bản.
- 7 Bài: Long Đăng, Long Ngâm, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Đối Hạ, Vạn Giá, Tiểu Khúc, Xàng Xê.
- 4 Oán: Tứ Đại Oán, Phụng Hoàng, Giang Nam, Phụng Cầu

BẢN NAM:

2/ HỎI: Bản Nam Xuân có bao nhiêu câu?

ĐÁP: Bản Nam Xuân gồm có 68 câu, có 9 lớp
-Lớp 1 có 8 câu, từ câu 1 đến câu 8
-Lớp 2 có 8 câu, từ câu 9 đến câu 16
-Lớp 3 có 8 câu, từ câu 17 đến câu 24
-Lớp 4 có 8 câu, từ câu 25 đến câu 32
-Lớp 5 có 8 câu, từ câu 33 đến câu 40
-Lớp 6 có 8 câu, từ câu 41 đến câu 48
-Lớp 7 có 8 câu, từ câu 49 đến câu 56
-Lớp 8 có 8 câu, từ câu 57 đến câư 64
-Lớp 9 có 8 câu, từ câu 65 đến câu 68

HỎI: Lòng bản Nam Xuân chỉ có 6 lớp (4 lớp lòng bản và 2 lớp Trống Xuân) chỉ có 48 câu, sao lại cho là 68 câu?

ĐÁP:
-Nếu đờn Nam Xuân qua Nam Ai thì không có gì thêm câu
-Nhưng đờn Liên Nam là Nam Xuân qua Nam Ai và qua Đảo Ngũ Cung thì phải thêm như sau:
+ Đờn hết 48 câu Nam Xuân ( và hết 67 Nam Ai) là trở lại
+ Lớp Hồi Thủ: Từ câu 1 đến câu 16 ( tức là lớp II và lớp III )
+ Và thêm 4 câu: Câu 1, 2, 7, 8
Như vậy, lòng bản Nam Xuân: 48 câu + lớp hồi thủ 16 câu + 4 câu chót ( 1, 2, 7, 8 Nam Xuân) Tổng số câu là 68 câu.

3/ HỎI: Bản Nam Ai gồm bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp? Số câu của mỗi lớp?

ĐÁP: Bản Nam Ai có 84 câu, có 10 lớp
- Lớp Phản Xuân có 4 câu
- Lớp 1 có 8 câu, từ câu 1 đến câu 8
- Lớp 2 có 8 câu, từ câu 9 đến câu 16
- Lớp 3 có 8 câu, từ câu 17 đến câu 24
- Lớp 4 có 8 câu, từ câu 25 đến câu 32
- Lớp 5 có 8 câu, từ câu 33 đến câu 40
- Lớp 6 có 8 câu, từ câu 41 đến câu 48
- Lớp 7 có 8 câu, từ câu 49 đến câu 56
- Lớp 8 có 8 câu, từ câu 57 đến câu 64
- Lớp 9 có 8 câu, từ câu 65 đến câu 72
- Lớp 10 có 8 câu, từ câu 73 đến câu 80

HỎI: Lòng bản Nam Ai có 68 câu, tại sao bảo là 84 câu?

ĐÁP: Lòng bản Nam Ai có 68 câu ( gồm 6 lớp và 2 lớp Mái Ai), nhưng khi đờn đủ 3 bản Nam Xuân qua Nam Ai qua Đảo Ngũ Cung thì bản Nam Ai có thêm như sau:
Đờn hết Nam Ai 68 câu, đờn thêm như sau:
- 4 câu lớp LIU ( từ câu 13 đến câu 16)
- 4 câu lớp XÊ ( từ câu 9 đến câu 12)
- 4 câu lớp LIU ( từ câu 13 đến câu 16)
- 4 câu PHẢN XUÂN ( từ câu 9 đến câu 12)
Cộng là 16 câu
Như vậy 68 câu lòng bản + với 16 câu = 84 câu

4/ HỎI: Bản Nam Đảo ( Đảo Ngũ Cung) có bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp?

ĐÁP: Bản Nam Đảo ( Đảo Ngũ Cung) có 52 câu, 6 lớp cộng thêm 4 câu Phản Xuân
- Lớp Phản Xuân có 4 câu
- Lớp 1 có 8 câu, từ câu 1 đến câu 8
- Lớp 2 có 8 câu, từ câu 9 đến câu 16
- Lớp 3 có 8 câu, từ câu 17 đến câu 24
- Lớp 4 có 8 câu, từ câu 25 đến câu 32
- Lớp 5 có 8 câu, từ câu 33 đến câu 40
- Lớp 6 có 8 câu, từ câu 41 đến câu 48
( Sau 52 câu Nam Đảo có 2 lớp Song Cước, tức là dùng 2 lớp Trống Nam Xuân chuyển dây để đờn tiếp Nam Đảo)

5/ HỎI: Bài Lưu Thủy Trường có bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp? Số câu của mỗi lớp?

ĐÁP: Bản Lưu Thủy Trường có 32 câu, 4 lớp
- Lớp 1 có 8 câu, từ câu 1 đến câu 8
- Lớp 2 có 8 câu, từ câu 9 đến câu 16
- Lớp 3 có 8 câu, từ câu 17 đến câu 24
- Lớp 4 có 8 câu, từ câu 25 đến câu 32

6/ HỎI: Bản Phú Lục Chấn có bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp? Số câu của mỗi lớp?

ĐÁP: Bản Phú Lục Chấn có 34 câu, 4 lớp
- Lớp 1 có 8 câu, từ câu 1 đến câu 8
- Lớp 2 có 8 câu, từ câu 9 đến câu 16
- Lớp 3 có 8 câu, từ câu 17 đến câu 24
- Lớp 4 có 10 câu, từ câu 25 đến câu 34

7/ HỎI: Bản Xuân Tình Chấn có bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp? Số câu của mỗi lớp?

ĐÁP: Bản Xuân Tình Chấn có 48 câu, 4 lớp

- Lớp 1 có 14 câu, từ câu 1 đến câu 14
- Lớp 2 có 16 câu, từ câu 15 đến câu 30
- Lớp 3 có 10 câu, từ câu 31 đến câu 40
- Lớp 4 có 8 câu, từ câu 41 đến câu 48

8/ HỎI: Bản Tây Thi Vắn có bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp? Số câu của mỗi lớp?

ĐÁP: Bản Tây Thi Vắn có 26 câu, 3 lớp
- Lớp 1 có 9 câu, từ câu 1 đến câu 9
- Lớp 2 có 13 câu, từ câu 10 đến câu 22
- Lớp 3 có 4 câu, từ câu 23 đến câu 26

9/ HỎI: Bản Cổ Bản Vắn có bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp? Số câu của mỗi lớp?

ĐÁP: Bản Cổ Bản Vắn có 34 câu, 5 lớp

- Lớp 1 có 6 câu, từ câu 1 đến câu 6
- Lớp 2 có 6 câu, từ câu 7 đến câu 12
- Lớp 3 có 7 câu, từ câu 13 đến câu 19
- Lớp 4 có 7 câu, từ câu 20 đến câu 26
- Lớp 5 có 8 câu, từ câu 27 đến câu 34

10/ HỎI: Bản Bình Bán Chấn có bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp? Số câu của mỗi lớp?

ĐÁP: Bản Bình Bán Chấn có 44 câu, 4 lớp

- Lớp 1 có 10 câu, từ câu 1 đến câu 11
- Lớp 2 có 12 câu, từ câu 11 đến câu 22
- Lớp 3 có 10 câu, từ câu 23 đến câu 32
- Lớp 4 có 12 câu, từ câu 33 đến câu 44

7 BÀI LỄ


11/ HỎI: Bản Xàng Xê có bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp? Mỗi lớp mấy câu?

ĐÁP: Bản Xàng Xê có 64 câu, 4 lớp
- Lớp 1 có 20 câu, từ câu 1 đến câu 20
- Lớp 2 có 16 câu, từ câu 21 đến câu 36 ( còn gọi là lớp HÒ)
- Lớp 3 có 12 câu, từ câu 37 đến câu 48 ( còn gọi là lớp XỀ)
- Lớp 4 có 16 câu, từ câu 49 đến câu 64 ( còn gọi là lớp CHÓT)


12/ HỎI: Bản Ngũ Đối Thượng có bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp? Số câu của mỗi lớp?

ĐÁP: Bản Ngũ Đối Thượng có 61 câu, 5 lớp
- Lớp 1 có 16 câu, từ câu 1 đến câu 16
- Lớp 2 có 8 câu, từ câu 17 đến câu 24
- Lớp 3 có 8 câu, từ câu 25 đến câu 32
- Lớp 4 có 16 câu, từ câu 33 đến câu 48
- Lớp 5 có 13 câu, từ câu 49 đến câu 61

13/ HỎI: : Bản Ngũ Đối Hạ có bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp? Số câu của mỗi lớp?

ĐÁP: Bản Ngũ Đối Hạ có 38 câu, 5 lớp
- Lớp 1 có 9 câu, từ câu 1 đến câu 9
- Lớp 2 có 6 câu, từ câu 10 đến câu 15
- Lớp 3 có 6 câu, từ câu 16 đến câu 21
- Lớp 4 có 6 câu, từ câu 22 đến câu 27
- Lớp 5 có 11 câu, từ câu 28 đến câu 38

14/ HỎI: : Bản Long Đăng có bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp? Số câu của mỗi lớp?

ĐÁP: Bản Long Đăng có 40 câu, 3 lớp
- Lớp 1 có 16 câu, từ câu 1 đến câu 16
- Lớp 2 có 12 câu, từ câu 17 đến câu 28
- Lớp 3 có 12 câu, từ câu 29 đến câu 40

14/ HỎI: : Bản Long Ngâm có bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp? Số câu của mỗi lớp?


ĐÁP: Bản Long Ngâm có 33 câu, 3 lớp
- Lớp 1 có 8 câu, từ câu 1 đến câu 8
- Lớp 2 có 11 câu, từ câu 9 đến câu 19
- Lớp 3 có 14 câu, từ câu 20 đến câu 33


15/ HỎI: : Bản Vạn Giá có bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp? Số câu của mỗi lớp?

ĐÁP: Bản Vạn Giá có 47 câu, 5 lớp
- Lớp 1 có 8 câu, từ câu 1 đến câu 8
- Lớp 2 có 6 câu, từ câu 9 đến câu 14
- Lớp 3 có 10 câu, từ câu 15 đến câu 24
- Lớp 4 có 14 câu, từ câu 25 đến câu 38
- Lớp 5 có 9 câu, từ câu 39 đến câu 47

17/ HỎI: Bản Tiểu Khúc có bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp? Mỗi lớp mấy câu?

ĐÁP: Bản Tiểu Khúc có 29 câu, 4 lớp
- Lớp 1 có 10 câu, từ câu 1 đến câu 10
- Lớp 2 có 7 câu, từ câu 11 đến câu 17
- Lớp 3 có 8 câu, từ câu 18 đến câu 25
- Lớp 4 có 4 câu, từ câu 26 đến câu 29
4 BẢN OÁN

18/ HỎI: Bản Tứ Đại Oán gồm bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp? Số câu của mỗi lớp?

ĐÁP: Bản Tứ Đại Oán gồm 38 câu, 5 lớp
- Lớp 1 có 7 câu, từ câu 1 đến câu 7 (còn gọi là lớp đầu)
- Lớp 2 có 8 câu, từ câu 8 đến câu 15 (còn gọi là lớp XANG DÀI 1)
- Lớp 3 có 8 câu, từ câu 16 đến câu 23 (còn gọi là lớp XANG DÀI 2)
- Lớp 4 có 7 câu, từ câu 24 đến câu 30 (còn gọi là lớp XANG VẮN)
- Lớp 5 có 8 câu, từ câu 31 đến câu 38 (còn gọi là lớp HỒI THỦ)
( Riêng câu 36-37-38 còn gọi là LỚP DỨT )

19/ HỎI: Bản Phụng Hoàng gồm bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp? Số câu của mỗi lớp?

ĐÁP: Bản Phụng Hoàng ( còn gọi là Phụng Hoàng Lai Nghi ) gồm có 48 câu, có 4 lớp

- Lớp 1 có 10 câu, từ câu 1 đến câu 10
- Lớp 2 có 12 câu, từ câu 11 đến câu 22
- Lớp 3 có 14 câu, từ câu 23 đến câu 36
- Lớp 4 có 12 câu, từ câu 37 đến câu 48

20/ HỎI: Bản Giang Nam gồm bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp? Số câu của mỗi lớp?

ĐÁP: Bản Giang Nam ( còn gọi là Giang Nam Cửu Khúc ) có 58 câu. Có 2 cách chia lớp, 1 cách chia khúc.

Cách chia Lớp thứ 1:
- Lớp 1 có 8 câu, từ câu 1 đến câu 8
- Lớp 2 có 8 câu, từ câu 9 đến câu 16
- Lớp 3 có 7 câu, từ câu 17 đến câu 24
- Lớp 4 có 10 câu, từ câu 25 đến cẫu 34
- Lớp 5 có 4 câu, từ câu 35 đến câu 38
- Lớp 6 có 4 câu, từ câu 39 đến câu 42
- Lớp 7 có 4 câu, từ câu 43 đến câu 46
- Lớp 8 có 6 câu, từ câu 47 đến câu 52
- Lớp 9 có 6 câu, từ câu 53 đến câu 58

Cách chia Lớp thứ 2:
- Lớp 1 có 16 câu, từ câu 1 đến câu 16
- Lớp 2 có 18 câu, từ câu 17 đến câu 34
- Lớp 3 có 12 câu, từ câu 35 đến câu 47
- Lớp 4 có 11 câu, từ câu 48 đến câu 58

Cách chia khúc, có 9 khúc:
- Khúc 1 có 4 câu, từ câu 1 đến câu 4
- Khúc 2 có 8 câu, từ câu 5 đến câu 12
- Khúc 3 có 4 câu, từ câu 13 đến câu 16
- Khúc 4 có 4 câu, từ câu 17 đến câu 20
- Khúc 5 có 10 câu, từ câu 21 đến câu 30
- Khúc 6 có 4 câu, từ câu 31 đến câu 34
- Khúc 7 có 12 câu, từ câu 35 đến câu 46
- Khúc 8 có 6 câu, từ câu 47 đến câu 52
- Khúc 9 có 6 câu, từ câu 53 đến câu 58

21/ HỎI: Bản Phụng Cầu gồm bao nhiêu câu? Bao nhiêu lớp? Số câu của mổi lớp?

ĐÁP: Bản Phụng Cầu ( còn gọi là Phụng Cầu Hoàng Duyên ) có 40 câu, 3 lớp
- Lớp 1 có18 câu, từ câu 1 đến câu 18
- Lớp 2 có 8 câu, từ câu 19 đến câu 26
- Lớp 3 có 14 câu, từ câu 27 đến câu 40

22/ HỎI: Trong 4 bản oán chính, bản nào có số câu nhiều nhất? Bao nhiêu câu?

ĐÁP: Bản Giang Nam có số câu nhiều nhất, 58 câu

23/ HỎI: Cuối bản Giang Nam Cửu Khúc là chữ nhạc gì?

ĐÁP: Cuối bản là câu 58 dứt bằng chữ LIU
24/ HỎI: Trong 7 bài lễ còn gọi là Thất Chính, bài nào có số câu nhiều nhất? bao nhiêu câu?

ĐÁP: Là bài Xàng Xê có số câu nhiều nhất, 64 câu.

25/ HỎI: Lớp Song Cước của bài Đảo Ngũ Cung có mấy câu? Thuộc hơi gì?

ĐÁP: Song cước có 2 lớp, 16 câu. Thường đàn 15 câu, theo hơi Ai

26/ HỎI: Hãy nói về sự khác nhau về nhịp của bài Ngũ Đối Hạ trong nhac tài tử Nam bộ và Ngũ Đối Hạ (trong bài Hạ) của nhạc Lễ?

ĐÁP: Ngũ Đối Hạ tài tử thường đờn nhịp tư hay tư lơi. Ngũ Đối Hạ hay còn gọi là Bài Hạ của nhạc lễ thì đờn nhịp đôi, vô từ cuối câu 3

27/ HỎI: Lớp Mái Nam Ai có mấy câu? Thuộc hơi gì?
ĐÁP: Lớp Mái Nam Ai có 16 câu, đờn 15 câu. Đựơc chia thành 2 lớp: Lớp Trống 1 và Lớp Trống 2, theo hơi Ai

28/ HỎI: Vì sao gọi là Phú Lục Chấn nhịp tư và gõ song loan như thế nào?
ĐÁP: Vì mỗi câu có 4 nhịp. Nhịp thứ 4 dứt câu nhạc, nhịp song loan vào nhịp thứ 3 và thứ 4 ( song loan nhịp thứ 3 là song loan báo, song loan nhịp thứ 4 là song loan dứt)

29/ HỎI: Câu thứ 48 của Phụng Hoàng lai nghi nhịp 8 thì nhịp song loan ở nhịp thứ mấy? Vì sao?
ĐÁP: Câu thứ 48 của Phụng Hoàng lai nghi hay bất cứ bài nhạc nhịp 8 cũng đều nhịp song loan ở thứ 6 để báo sắp dứt câu nhạc và nhịp song loan ở cuối nhịp thứ 8 để báo dứt câu nhạc.
Đặc biệt câu 48 của bài Phụng Hoàng lai nghi là câu cuối cùng của bài nhạc này nên phải có thêm 1 nhịp song loan sau nhịp thứ 6 để báo sắp dứt bài nhạc.

30/ HỎI: Bốn bài Oán chánh còn gọi là Oán nội gồm có những bài nào? Mỗi bài có bao nhiêu câu?
ĐÁP: Bốn bài Oán chánh còn gọi là Oán nội gồm có: bài Tứ Đại Oán gồm có 38 câu, Phụng Hoàng 48 câu, Giang Nam 58 câu và Phụng Cầu 40 câu.
31/ HỎI: Bài bình bán chấn được mở lơi ra từ bài gì? Lòng bản ấy có những chữ nhạc gì?
ĐÁP: Bài bình bán chấn được mở nhịp từ bài bình bán vắn. lòng bản ấy là:
(liu) tồn liu xang (u) u liu (cồng) liu u xang (liu)

32/ HỎI: Bài lưu thủy trường được mở nhịp từ bài gì? Lòng bản ấy có những chữ nhạc gì?
ĐÁP: Bài lưu thủy trường được mở nhịp từ bài lưu thủy đoản, lòng bài là:
(hò) cồng hò xừ (xàng) xê xang (hò) cồng hò xừ (xàng)

33/ HỎI: Bốn câu Phản trong 3 bài Nam vô đầu bằng chữ nhạc gì?
ĐÁP: Bằng chữ nhạc Xang ( líu công xê xang ) đó là nhịp thứ nhất của câu đầu trong bốn câu Phản

34/ HỎI: Câu thứ 13 của Đảo ngũ cung được vô bằng chữ nhạc gì? Dứt câu bằng chữ nhạc gì?
ĐÁP: Vô bằng chữ Xang và dứt câu bằng chữ Liu

35/ HỎI: Nếu đờn bài Phú lục chấn đến câu 34 thì gõ song loan thế nào?
ĐÁP: Câu 34 của bài Phú lục chấn là câu cuối cùng. Ngoài nhịp song loan ở nhịp thứ 3 và thứ 4 của câu, chúng ta nhịp thêm song loan báo chuẩn bị dứt bài sau nhịp thứ 3 ( có sữa chữa cho dễ hiểu )

36/ HỎI: Nếu đang hòa tấu bài Đão ngũ cung bậc Hò tư ( dây oán ) khi đến lớp Song cước thì phải chuyển qua bậc gì và từ câu mấy?

ĐÁP: Nếu đang hòa tấu bài Đão ngũ cung bậc Hò tư ( dây oán ) khi đến lớp Song cước thì phải chuyển qua bậc Hò nhất ( dây Nam hay Bắc oán ) từ cuối câu 51. Đó là đờn hết bải Đảo ngũ cung. Nếu muốn chuyển gấp, ngắn hơn thì chuyển từ câu 12 hay 20 cũng được ( riêng câu 20 lòng bản Đảo là dứt Xê, ta đổi lại Liu bậc Hò nhất )

37/ HỎI: Những thời kỳ mở nhịp của bản Vọng cổ, từ bản gì? Những khoảng năm nào tăng nhịp cho đến nay là nhịp 16, 32 ?
ĐÁP: Những thời kỳ mở nhịp của bản Vọng cổ như sau:
1- Từ bản Dạ cổ hoài lang nhịp đôi nguyên thủy, năm 1920-1926
2- Từ bản Dạ cổ hoài lang nhịp hai tăng lên nhịp tư, năm 1927-1935
3- Thành bản vọng cổ nhịp 8, năm 1936-1945
4- Từ Vọng cổ nhịp 8 tăng lên thành vọng cổ nhịp 16, năm 1946-1954
5- Từ Vọng cổ nhịp 16 tăng lên thành vọng cổ nhịp 32, năm 1955- 1964
Đến nay thành 32 nhịp lơi

38/ HỎI: Trong bài nhạc tài tử, “Mô” là gì?
ĐÁP: “Mô” là một hoặc một số nhịp trong bài nhạc không có chữ nhạc. Ví dụ: Nhịp thứ 3 của câu 3 trong bài Phụng Hoàng là “ Mô”

39/ HỎI: Trong diễn tấu nhạc tài tử “ Chầu” là gì?
ĐÁP: “Chầu” là 1 hoặc nhiều nhịp không có lời ca chỉ có đờn.
Ví dụ nhịp thứ 1 và thứ 2 của câu 3 trong bài Phụng Hoàng (nhịp tám) có đờn không ca gọi là chầu.

40/ HỎI: Trong 4 bài Oán chánh, bài nào có nhiều nhịp mô liên tục trong lòng 1 câu?
ĐÁP: Bài Tứ đại oán là bài có nhiều nhịp mô liên tục trong lòng 1 câu. Ví dụ câu thứ 7 có 3 nhịp mô liên tục là nhịp 5,6 và 7.
41/ HỎI: Loại “ Ngũ châu “ trong âm nhạc tài tử gồm có mấy bản?
ĐÁP: Loại “ Ngũ châu “ có 5 bản: Kim tiền bản, Ngự giá, Hồ lan, Vạn liên, và Song phi hồ điệp.

42/ HỎI: Loại “ Tứ bửu “ trong âm nhạc tài tử gồm có mấy bản?
ĐÁP: Loại “ Tứ bửu “ gồm 4 bản: Ngự giá đăng lâu, Minh hoàng thưởng nguyệt, Phò mã giao duyên, và Ái tử kê đã xin đổi tên lại Đông cung hội yến.

- Trong 4 bản tứ bửu này có 2 bản do ông Lê Tài Khị ( Nhạc Khị ) ở Bạc Liêu sáng tác là: Bản Ngự giá đăng lâu và Ái tử kê.

43/ HỎI: Loại “ Bát ngự “ gồm các bản nhạc nào?
ĐÁP: Loại “ Bát ngự “ gồm 8 bản như: Đường thái tôn, Vọng phu, Chiêu quân, Ái tử kê, Bát man tấn cống, Tương tư ngự, Duyên kỳ ngộ và Quả phụ hàm oan.

44/ HỎI: Bản Đường thái tôn thuộc loại nhạc gì trong âm nhạc tài tử, nó có bao nhiêu câu?
ĐÁP: Bản Đường thái tôn thuộc loại nhạc “ Bát ngự”, có 32 câu nhịp đôi.

45/ HỎI: Bản Song phi hồ điệp có bao nhiêu câu? Sử dụng ca mấy hơi?
ĐÁP: Bản Song phi hồ điệp có 20 câu. Có 2 loại hơi là hơi Bắc và hơi Ai.

46/ HỎI: Bản Nam xuân có câu dứt bằng chữ nhạc “ Tích” là câu nào? Và dứt ở nhịp thứ mấy?
ĐÁP: Cuối câu 15 của bản Nam xuân dứt bằng chữ “ Tích”

47/ HỎI: Bản Kim tiền bản trong âm nhạc tài tử được xếp vào loại gì?
ĐÁP: Bản Kim tiền bản được xếp vào loại “ Ngũ châu”

48/ HỎI: Bản lý con sáo được xếp vào loại nhạc gì? Nó còn có tên gì?
ĐÁP: Bản lý con sáo được xếp vào loại “ Lý” . Nó còn có tên là Lý tam thất

49/ HỎI: Câu 1 của bản vọng cổ nhịp 16, đờn không gối đầu có mấy nhịp; Vọng cổ nhịp 32, đờn không gối đầu có mấy nhịp?
ĐÁP: Câu 1 của bản vọng cổ nhịp 16, đờn không gối đầu có 8 nhịp; Vọng cổ nhịp 32, đờn không gối đầu có 16 nhịp?
- Nó là quy tắc, nếu nói lối vô đầu, đờn còn lại chỉ có nữa câu…

50/ HỎI: Bản Trường tương tư nhịp tám có mấy lớp, bao nhiêu câu?
ĐÁP: Bản Trường tương tư nhịp tám có 3 lớp, 28 câu như sau:
- Lớp 1 có 12 câu. Lớp 2 có 12 câu. Lớp 3 có 4 câu.
Theo sách ông Trịnh Thiên Tư thì ở Bạc Liêu đờn lớp 3 có 5 câu, cộng chung toàn bản là 29 câu và dứt Hò.

51/ HỎI: Bản Văn thiên tường nhịp tám có mấy lớp, bao nhiêu câu?
ĐÁP: Bản Văn thiên tường nhịp tám có 3 lớp, 42 câu
- Lớp 1 có 15 câu. Lớp 2 có 15 câu. Lớp 3 có 12 câu
Về nhạc thì lớp 1 và 2 giống nhau. Và lớp này cũng có đoạn Xế Xảng ở vào 3 câu cuối lớp.

52/ HỎI: Hai câu “ Điểu Ngữ” trong bản Xuân Tình Chấn nằm ở câu nào? Lớp nào?
ĐÁP: Hai câu “ Điểu Ngữ” trong bản Xuân Tình Chấn nằm ở câu 37 và 38 thuộc lớp 3. Điểu Ngữ này còn có tên là lớp Hò Cống vì chữ nhạc ở 2 câu này có lặp lại 2 chữ Hò Cống.

Hỏi Đáp Kiến Thức Tài Tử Nam Bộ

PHẦN MỘT

NHÂN VẬT VÀ SỰ KIỆN


1/ HỎI: Ông Mưòi Đờn tên thiệt là gì? Quê quán và thành tích của ông?
ĐÁP: Ông Mưòi Đờn tên thiệt là Đinh Trung Dõng, sinh năm 1918, ở Lai Vung Sa Đéc, mất năm 1996. Cuối năm 1940 ở vùng quê mình ông là 1 tay đờn ca tài tử Nam bộ nổi tiếng.

- Thành tích trưóc năm 1975 ông giữ chức: Phó vụ nghệ thuật Bộ Văn Hoá Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam, Việt Nam. Phó đoàn văn công giải phóng ( B2 ) Trưỏng đoàn cải lương Giải Phóng - Sau ngày miền Nam giải phóng Trưỏng phòng nghiên cứu âm nhạc Việt Nam ( bộ phận phía Nam ). Ông được nhà nưóc phong tặng danh hiệu nghệ sĩ ưu tú và nhiều huân chương, huy hiệu khác.

2/ HỎI: Ai là ngưòi đưọc báo chí, đồng nghiệp tặng danh hiệu Đệ nhất danh ca vọng cổ? Tên thật của ông là gì?
ĐÁP: Đệ nhất danh ca vọng cổ là nghệ sĩ nhân dân Út Trà Ôn. Ông tên thiệt là Nguyễn Thành Út.

3/ HỎI: Cuốn sách " Nhạc cổ điển Bạc Liêu " do ai biên soạn? Ai viết đa số lời ca trong sách này?
ĐÁP: Cuốn sách " Nhạc cổ điển Bạc Liêu " do ông Trịnh Thiên Tư biên soạn, đa số lời ca trong sách nảy là do ông viết.
- Ông Trịnh Thiên Tư là nhà văn và là nhà soạn giả ca cổ điển, là học trò của ông Nhạc Khị tức Lê Tài Khị ở Bạc Liêu.

4/ HỎI: Hãy liệt kê một số sáng tác tiêu biểu của ông Giáo Thinh cho âm nhạc tài tử Nam bộ?
ĐÁP: Những sáng tác tiêu biểu của ông Giáo Thinh là: Thập bác thủ, Ngũ đối hoàn cung, Thanh dạ đề quyên, Song phi Hồ Điệp, Chinh phụ ly tình, Ngũ châu minh phổ, Nam âm ngũ khúc, Ngũ cung luân hoán.

5/ HỎI: Ai là ngưòi đờn ghi ta Việt Nam đưọc đồng nghiệp gọi là " đệ nhất danh cầm " từ thập niên 60 thế kỷ 20? Tên thật của ông là gì?
ĐÁP: Đệ nhất danh cầm ghi ta Việt Nam từ thập niên 60 thế kỷ 20 là nhạc sĩ tài tử Văn Vĩ, tên thật là Đinh Văn Dậm.

6/ HỎI: Ông Ba Đợi tên thật là gì? Hãy kể 1 số sáng tác của ông?
ĐÁP: Ông Ba Đợi tên thật là ông Nguyễn Quang Đại. Ông sáng tác Tám bài ngự, trong dịp cung nghinh vua Thành Thái năm 1898 tại Sài Gòn.
- Một số học trò có tiếng của ông là: Sáu Thới, Cao Huỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Cao Hoàng Diêu, Bảy Nhỏ, ông Chín Kỳ.

7/ HỎI: Ông Hai Ngưu tên thật là gì? ông đã soạn những quyển sách nào cho âm nhạc tài tử Nam bộ?
ĐÁP: Ông Hai Ngưu tên thật là Nguyễn Văn Ngưu. Một số sách ông đã soạn như: Cổ nhạc cải tiến cầm ca, Cổ nhạc tổ truyền sử thi.

8/ HỎI: Ai là ngưòi đờn kìm dây Sa giang hay nhất vào thế kỷ 20? Quê quán của ông ở đâu?
ĐÁP: Ông Sáu Trinh là ngưòi đờn kìm dây Sa giang hay nhất vào thế kỷ 20. Quê quán của ông ở Vỉnh Long.

9/ HỎI: Nữ danh ca tài tử đương thời đưọc nhiều ngưòi biết đến là ai? Có tên thật là gì?
ĐÁP: Nữ danh ca tài tử đương thời đưọc nhiều ngưòi biết đến là cô Bạch Huệ, tên thật của cô là Huỳnh Thị Huệ, con của nhạc sĩ Sáu Tửng nổi danh đờn sến và đờn kìm ở Sài Gòn.

10/ HỎI: Ca ra bộ ra đời vào năm nào? Tại đâu? Bải ca gì và ai đề xưóng? ở đâu và từ năm nào?
ĐÁP: " CA RA BỘ " ra đời vào năm 1915 tại Vĩnh Long, do thầy Phó Mưòi Hai, tên thật là Tống Hữu Định đề xưóng, lấy bài ca: Nguyệt Nga, Bùi Kiệm theo điệu Tứ đại oán mà ông đã nhận đưọc của Ban Tài tử của ông Nguyễn Tống Triều ở Mỹ Tho đem về Vĩnh Long biểu diễn trên sân khấu theo phong cách mới có ra bộ, rất hay đưọc quần chúng hoan hô nhiệt liệt. Từ đó có hình thức CA RA BỘ và lập gánh hát CA RA BỘ...để tiến tới sân khấu cải lương.

11/ HỎI: Tiếng đờn sến được đồng nghiệp và khán giả xem là " Độc nhất vô nhị " từ thập niên 60 thế kỷ 20 là ai?
ĐÁP: Tiếng đờn sến được đồng nghiệp và khán giả xem là độc nhất vô nhị từ thập niên 60 thế kỷ 20 là nhạc sĩ Năm Cơ, Ông tên thật là Dương Văn Cơ.

12/ HỎI: Dây Ngân giang trên cây đàn ghi ta Việt Nam (phím lõm) còn được gọi là dây gì? Do ai sáng tác?
ĐÁP: Dây Ngân giang trên cây đàn ghi ta Việt Nam (phím lõm) còn được gọi là dây Bảo Chánh. Dây Bảo Chánh do ông Văn Còn sáng tác. Ông Văn Vĩ theo lời đề nghị của ông Bảy Bá đã xin ý kiến của ông Văn Còn để đựơc đổi tên là dây Ngân giang.

13/ HỎI: Nghệ sĩ ưu tú Bảy Bá tên thiệt là gì? Ông sinh năm nào? Ở đâu?
ĐÁP: Nghệ sĩ ưu tú Bảy Bá tên thiệt là Huỳnh Trí Bá ( còn có bút danh là Viễn Châu ) ông sinh năm 1923 tại Trà Vinh.

14/ HỎI: Nghệ sĩ ưu tú Vủy Chổ tên thiệt là gì? Ông sinh năm nào? Ở đâu? mất năm nào?
ĐÁP: Nghệ sĩ ưu tú Vủy Chổ tên thiệt là Phạm Văn Chổ, sinh năm 1938, tại Chợ Lớn, mất năm 2000.

15/ HỎI: Nghệ sĩ ưu tú Năm Vĩnh tên thiệt là gì? Ông sinh năm nào? Ở đâu? Ông có biệt tài gì?
ĐÁP: Nghệ sĩ ưu tú Năm Vĩnh tên thiệt là Võ Văn Vĩnh sinh năm 1918, tại Rạch Giá, ông có biệt tài đờn kìm tay trái.

16/ HỎI: Nghệ sĩ ưu tú Ba Tu tên thiệt là gì? Ông sinh năm nào? Ở đâu?
ĐÁP: Nghệ sĩ ưu tú Ba Tu tên thiệt là Trương Văn Tư, ông sinh năm 1938 tại Long An.

17/ HỎI: Bản Ngũ đối ai do ai sáng tác? Vào năm nào? Ông tên thiệt là gì?
ĐÁP: Bản Ngũ đối ai do ông Giáo Thinh sáng tác, vào năm 1930, Ông tên thiệt là Nguyễn Văn Thinh.

18/ HỎI: Ngưòi có công trong việc đào tạo ca tài tử, cải lương cho các lớp đào tạo diễn viên của nhà hát Trần Hữu Trang là ai?
ĐÁP: Ngưòi có công trong việc đào tạo ca tài tử, cải lương cho các lớp đào tạo diễn viên của nhà hát Trần Hữu Trang là ông Tấn Đạt, ông tên thiệt là Trương Tấn Đạt, sinh năm 1932, tại Tịnh Biên-Châu Đốc ; Ông đưọc nhà nưóc phong tặng danh hiệu nghệ sĩ ưu tú ; Hiện nay đang giảng dạy bộ môn này tại Trưòng Cao đẳng sân khấu điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh.

19/ HỎI: Ông Bảy Triều tên thiệt là gì? Ở đâu? Truyền nhân ngưòi dạy nhạc nổi danh của ông là ai?
ĐÁP: Ông Bảy Triều tên thiệt là Trần Văn Triều, ở Mỷ Tho. Truyền nhân người dạy âm nhạc có tiếng của ông là ông Trần Văn Khê, giáo sư Trần Văn Khê.

20/ HỎI: Ông Hai Phát tên thiệt là gì? Học trò của ông là ai?
ĐÁP: Ông Hai Phát tên thiệt là Hồng Tấn Phát. Học trò nổi danh nhạc sĩ tài tử xuất sắc của ông là Hai Thơm, Văn Vĩ.

21/ HỎI: Cuốn sách “ Tìm hiểu âm nhạc cải lương “ do nhà xuất bản TP.HCM xuất bản năm 1987 là của ai ?
ĐÁP: Của ông Đắc Nhẫn, nhạc sĩ tân nhạc Đắc Nhẫn

22/ HỎI: Người được báo chí và đồng nghiệp tặng danh hiệu là “ Vua viết vọng cổ “ là ai ?
ĐÁP: Là ông Viễn Châu, tên thiệt là Huỳnh Trí Bá, quê ở Đôn Châu- Trà Cú , tỉnh Trà Vinh

23/ HỎI: Ông Trịnh Thiên Tư đã có công soạn sách gì ? Bài vở trong sách có gì đặc biệt ?
ĐÁP: Ông Trịnh Thiên Tư đã có công sưu tầm và soạn cuốn sách “ CA NHẠC CỔ ĐIỂN BẠC LIÊU “. Ông sáng tác 1 số lời ca cho các bản nhạc của thầy và các nhạc sĩ đồng môn của ông, số lượng tác phẩm loại này rất lớn, có đến gần trăm bài và nhiều nhất là các bài lịch sử rất hay .

24/ HỎI: Ông Hai Khuê tên thiệt là gì ? Những sáng tác của ông ?
ĐÁP: Ông Hai Khuê tên thiệt là Võ Văn Khuê. Một số sáng tác của ông cho ca nhạc tài tử như: Tây Hồ cảnh, Nam Hồ cảnh, Phi mã nghinh ngưu, Ngũ châu liên cước, Chính khí ca.

25/ HỎI: Cuốn sách “ CẦM CA TÂN ĐIỆU “ năm 1926 do ai soạn ?
ĐÁP: Ông Lê Văn Tiếng người Thủ Thừa, Long An và ông Trần Phong Sắc ngừoi Tân An, Long An. Hai ông đã cùng soạn cuốn sách Cầm ca tân điệu, năm 1926. Trong đó ông Lê Văn Tiếng diễn cầm, ông Trần Phong Sắc diễn ca .

26/ HỎI: Ban Tài tử của ông Tư Triều ở Mỹ Tho hồi đầu thế kỷ 20, gồm những ai ? Có quan hệ gì đến hình thức CA RA BỘ được ra đời

ĐÁP: Ban Tài tử của ông Tư Triều tên thiệt là Nguyễn Tống Triều ở Mỹ Tho hồi đầu thế kỷ 20 gồm: Tư Triều đờn kìm, Chín Quán đờn bầu, Mừơi Lý thổi tiêu, Bảy Vô đờn cò, cô Hai Nhiễu ( con ông Tư Triều ) đờn tranh và ca, cô Ba Đắc ca.
- Ông Tư Triều cho ông Phó Mừơi Hai là Tống Hữu Định bài ca Nguyệt Nga-Bùi Kiệm theo điệu Tứ Đại Oán đem về Vĩnh Long tổ chức ca trên sân khấu theo phong cách mới, người ca có ra bộ, nên từ đó có CA RA BỘ ra đời .

27/ HỎI: CA RA BỘ ra đời từ năm nào? Tại đâu? Do ai đề xướng ?
ĐÁP: CA RA BỘ ra đời từ năm 1915, tại Vĩnh Long, do thày Phó Mười Hai tên thiệt là Tống Hữu Định nhận của Ban Tài tử của ông Tư Triều… bài ca Nguyệt Nga-Bùi Kiệm theo điệu Tứ đại oán đem về Vĩnh Long, trình bày trên sân khấu theo phong cách mới, hấp dẫn hơn. Nghệ sĩ vừa ca vừa làm điệu bộ cho phù hợp tình huống kịch tính rất hay, được dân chúng nhiệt liệt hoan nghinh. Từ đó loại hình CA RA BỘ được ra đời và phát triển khắp nơi ( là tiền thân của cải lương )

28/ HỎI: Ông Giáo Thinh có quan hệ gì với ông Ba Đợi ( Nguyễn Quang Đại ) ?
ĐÁP: Ông Giáo Thinh là truyền nhân về âm nhạc tài tử đời thứ 2 của ông Ba Đợi. Cụ thể như: Ông Giáo Thinh là học trò của ông Sáu Thới, ông Sáu Thới là học trò của ông Ba Đợi.

29/ HỎI: Ông Nhạc Khị tên thiệt là gì ? Biệt tài của ông và công lao của ông đối với nhạc tài tử như thế nào ? Quê quán và năm sinh của ông ?
ĐÁP: Ông Nhạc Khị tên thiệt là Lê Tài Khị ở Bạc Liêu. Ông là người kỳ tài xuất chúng, các bản nhạc tế lễ và tài tử đương thời ông đều thuộc cả. Ông chỉ cần nghe đờn qua vài lần là ông đờn lại y hệt và còn hay hơn. Ngoài nghề đánh trống nhạc tế lễ siêu tài, ông còn giỏi các nhạc cụ khác như: Kèn, Cò, Kìm, Tranh, Sến, Đoản.
- Học trò thành danh về âm nhạc tài tử của ông như: Trịnh Thiên Tư, ông Cao Văn Lầu, ông Ba Chột.
- Ông còn sáng tác những bản nhạc như: Ngự giá đăng lâu, Ái tử kê miền Tây
- Quê quán ông ở Bạc Liêu, sinh năm 1870 mất năm 1948, truyền nhân nhạc tài tử của ông là ông Ba Chột.

30/ HỎI: Ông Hai Thơm có tài năng gì đặc biệt, một số hãng dĩa hát tặng danh hiệu gì? Quê của ông ở đâu ?
ĐÁP: Nhạc sĩ Hai Thơm, người đờn violon, còn gọi là vĩ cầm, được 1 số hãng dĩa hát ở Sài Gòn tặng danh hiệu là nhạc sĩ có “ngón đờn xuất thần” được thành danh từ thập niên 60 thế kỷ 20. Quê ông ở Bạc Liêu.
31/ HỎI: Ông Ba Chột đã sáng tác gì cho nhạc tài tử Nam bộ, ông giỏi cây đàn gì ?
ĐÁP: Ông Ba Chột đã sáng tác những bản nhạc tài tử như: Liêu Giang, Ngũ Quan, Mẫu Đơn, Thuấn Hoa, Huỳnh Ba, Cảnh Xuân, Hòa Duyên, Vạn Thọ, Tam Quan Nguyệt, Lưỡng Long, Nhựt Nguyệt.

32/ HỎI: Ông Sáu Lầu tên thiệt là gì? Ông sinh năm nào ? Ở đâu ? Ông đã có những sáng tác gì thêm ngoài bài Dạ cổ hoài lang?
ĐÁP: Ông Sáu Lầu tên thiệt là Cao Văn Lầu, sinh năm 1892 tại xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An. Lên 7 tuổi theo gia đình đến ở thị xã Bạc Liêu, học nhạc của ông Nhạc Khị. Ông đã sáng tác bài Dạ cổ hoài lang năm 1919 và một số bài như: Thu phong ( còn gọi là Bá Điểu ), Minh hoàng thưởng nguyệt, Giọt mưa đêm.

33/ HỎI: Ông Mười Phú tên thiệt là gì? Những sáng tác nhạc của ông?
ĐÁP: Ông Mười Phú tên thiệt là Võ Văn Phú, sinh năm 1926 tại Thuận An, Sông Bé. Ông đã sáng tác bản: Ngũ khúc long phi, và một số bài ca tài tử như: Tình sử Cổ Loa Thành theo điệu Giang Nam, Phận làm trai theo điệu Bình Bán Chấn v.v…

34/ HỎI: Bài Thanh Dạ Đề Quyên do ai sáng tác?
ĐÁP: Bài Thanh Dạ Đề Quyên do ông Giáo Thinh sáng tác năm 1931

35/ HỎI: Một trong những người có công lớn đã giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam với bạn bè trên thế giới là ai? Cụ thể công lao đó?
ĐÁP: Ông Trần Văn Khê là một trong những người có công lớn đã giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam với bạn bè trên thế giới. Một số sách tiêu biểu do ông biên soạn như: Âm nhạc truyền thống Việt Nam (bằng tiếng Pháp). Múa rối nứơc Việt Nam (bằng tiếng Pháp) và hơn 200 bài nghiên cứu âm nhạc và văn học nghệ thuật.

36/ HỎI: Ông Hai Ngưu đã biên soạn bộ sách gì?
ĐÁP: Ông Hai Ngưu đã biên soạn bộ sách “ Cổ nhạc cải tiến cầm ca”, “ Sách …nhạc tổ truyền” . Ông tên thiệt là Nguyễn Văn Ngưu, sinh năm 1916, tại Cái Bè, Mỹ Tho.

37/ HỎI: Ông Sáu Tửng tên thiệt là gì? Tài năng nghệ thuật của ông?
ĐÁP: Nhạc sĩ Sáu Tửng tên thiệt là Huỳnh Văn Sâm, có tài đờn sến vọng cổ thu dĩa hát nhiều bài vào thời điểm năm 1940 ở Sài Gòn. Truyền nhân của ông là cô Bạch Huệ

38/ HỎI: Người sáng tác cuốn sách “ Bản đờn tranh” xuất bản năm 1956 là ai?

ĐÁP: Cuốn sách “Bản đờn tranh” xuất bản năm 1956 do ông Chín Kỳ biên soạn. Ông tên thiệt là Nguyễn Văn Kỳ, học âm nhạc tài tử với ông Ba Đợi.

39/ HỎI: Bản “ Khúc hận nam quan” do ai sáng tác?
ĐÁP: Bản “ Khúc hận nam quan” do ông Năm Vinh sáng tác. Ông tên thiệt là Nguyễn Văn Hiển.

40/ HỎI: Hai bộ nhạc: Tứ Bửu, Ngũ Châu do ai sáng tác?
ĐÁP: Bộ nhạc Tứ Bửu do nhóm nhạc miền Tây sáng tác.
Bộ nhạc Ngũ Châu do nhóm nhạc miền Đông sáng tác.
41/ HỎI: Trong bài ca “ Tô Huệ chức cẩm hồi văn” có sự tích như thế nào?
ĐÁP: Có tích nàng Tô Huệ ngừơi đời nhà Tần ( Trung Quốc ) quê ở Thị Bình tên thiệt là Nhược Lan, vợ của Đậu Thao. Nàng có tài văn chương, khi Đậu Thao tuân lệnh vua đi trấn biên ải lâu ngày, nàng làm bài thơ hồi văn rồi dệt vào gấm, dâng lên vua xin tha cho chồng về.

42/ HỎI: Sách “ Cổ nhạc tầm nguyên “ do ai sáng tác ? Trọn bộ mấy quyển ?
ĐÁP: Sách “ cổ nhạc tầm nguyên “ do ông Năm Hưng biên soạn, trọn bộ 4 quyển. Ông tên thiệt là Võ Tấn Hưng.

43/ HỎI: Lễ húy kỵ ông Nguyễn Quang Đại ( ông Ba Đợi ) ngày nào ?
ĐÁP: Lễ húy kỵ ông Nguyễn Quang Đại nhằm ngày 19 tháng giêng.

44/ HỎI: Ông Năm Hưng tên thiệt là gì ? Ông sáng tác mấy bộ sách ?
ĐÁP: Ông Năm Hưng tên thiệt là Võ Tấn Hưng, sinh năm 1913 tại Long Thành tỉnh Đống Nai, mất năm 1983. Ông sáng tác bộ sách “ Cổ nhạc tầm nguyên” 4 cuốn và cuốn Cổ nhạc canh tân. Ông là học trò của ông Giáo Thinh

45/ HỎI: Người phát minh đầu tiên dùng đờn violon đờn vọng cổ là ai?
ĐÁP: Ông Jean Tịnh và ông Mười Còn có công phát minh đầu tiên đưa cây đờn violon của Tây vào dàn nhạc Tài tử Nam Bộ.

- Ông Jean Tịnh là nhạc công nhạc tây đờn cho đài phát thanh Pháp Á, đã nhờ 1 số nhac sĩ đờn cò đờn cho ông ghi lại bản nhạc 6 câu vọng cổ, nhịp 8, ông bắt đầu tập đờn vọng cổ bằng đờn violon, ông được xem là người đầu tiên đờn violon nhạc tài tử Nam bộ.
- Ông Mười Còn là nhạc sĩ đờn cò, dựa vào sáng kiến của ông Jean Tịnh mà tập và là người đờn violon nhạc tài tử Nam bộ xuất sắc đầu tiên.

46/ HỎI: Người đờn ghita Hauydi được 1 số hãng đĩa hát ca ngợi là: Làm rung chuyển sân khấu cổ nhạc từ thập niên 60 của thế kỷ 20 là ai?
ĐÁP: Là nhạc sĩ Thanh Kim, học trò nổi danh của ông là Hoàng Ân.

47/ HỎI: Người có công mở rộng âm vực trầm của đờn ghita Việt Nam trong diễn tấu nhạc tài tử, đặc biệt là trên làn sóng phát thanh và đĩa hát là ai?
ĐÁP: Là ông Văn Giỏi, tên thiệt là Trần Văn Giỏi quê ở Cai Lậy, Tiền Giang.

48/ HỎI: Bài Văn thiên tường “ Bá Lý Hề” do ai sáng tác?
ĐÁP: Do ông Trần Quang Quờn sáng tác vào năm 1916- 1917. Ông sinh năm 1875 tại Vĩnh Long, giỏi chữ nho, làm kinh lịch tại Tòa án Vĩnh Long còn gọi là thầy kinh lịch Quờn. Ông là người tài hoa: Cầm kỳ thi họa đều biết, nổi tiếng là người có ngón đờn tài tử Nam bộ xuất sắc ở Vĩnh Long vào những năm đầu thế kỷ 20.

49/ HỎI: Cuốn sách Bản đờn kìm do ai soạn ra?
ĐÁP: Ông Thanh Nha còn có tên gọi là Trần Ngọc, soạn cuốn sách Bản đờn kìm khoảng năm 1960. Ông còn sáng tác bài ca gồm: 6 bản bắc, chủ đề nông dân theo Đảng. Và bộ Hạ Đăng Tiểu chủ đề “ Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, năm 1965 “

50/ HỎI: Những bản thuộc loại “ Tam bắc, Nhị oán” do ai sưu tầm?
ĐÁP: Những bản thuộc loại “ Tam bắc, Nhị oán” do ông Chín Tâm sưu tầm tại Mõ Cày, Bến Tre. Ông tên thiệt là Trần Thanh Tâm, sinh năm 1927 ở Mõ Cày, Bến Tre.

51/ HỎI: Bài ca “ Bá Lý Hề” theo điệu Văn thiên tường và Tứ đại oán có sự tích như thế nào?
ĐÁP: Bá Lý Hề, người nước Ngu, tên là Tĩnh Bá, 30 tuổi mới có vợ là Đỗ Thị, sinh được 1 con trai. Ông học giỏi có tài, đi sử bị bắt chăn trâu (?).Tần Mục Công biết mới chuộc về bằng 5 bộ da dê – Đỗ Thị ở nhà chờ đợi mỏi mòn, bồng con đi tìm chồng, khi ấy Bá Lý Hề làm quan thừa tướng cho nước Tần – Đỗ Thị dò xét kỹ lưỡng, nhân dịp Tướng phủ đang tìm mướn người may vá, mới xin vào ở.
- Một hôm Bá Lý Hề nhớ vợ con buồn bã, có quan đông liêu thân thiết đem nhạc công đến mở tiệc giúp vui – Đỗ Thị xin với nhạc công được lên đó giúp việc – Bá Lý Hề nghe ca trúng hoàn cảnh mình bèn nhìn xuống thấy vợ…mới buông ly rượu, ôm vợ vào lòng, sống chung thủy trọn đời.

ĐÀN KÌM VÀ DỊCH HỌC PHƯƠNG ĐÔNG

Đã từ lâu , Đờn Kìm còn có tên là Nguyệt Cầm , một nhạc cụ dân tộc , luôn luôn được giao nhiệm vụ chỉ huy dàn nhạc , nhưng chưa thấy có sách vở nào đề cập đến nó một cách chuyên sâu và khoa học . Hiện nay , nhạc cụ mang đậm nét quê hương này có nguy cơ bị thất truyền vì có nhiều người không hiểu rõ tính năng và nét độc đáo của nó trong nền âm nhạc ngũ cung đông phương cho là một nhạc cụ nhà quê quá thô thiển cần phải được cải tiến hoặc phải thay thế bằng một nhạc cụ khác dù là ngoại lai như ghi ta, đờn sến , v,v..

Thật ra , sự cấu trúc của Đờn Kìm rất hoàn chỉnh về phương diện kỹ thuật , toán học , âm học cũng như tượng số học đông phương . Do đó , tôi xin nêu lên một vài suy nghĩ và sự hiểu biết của tôi về cây Đờn Kìm hầu được đóng góp một phần tư liệu nhỏ trong việc bảo tồn và cải tiến nhạc cụ dân tộc .

I . Về Tên Gọi

Có rất nhiều ý kiến về cách gọi tên Đờn Kìm . Tôi xin nêu ra sau đây những ý kiến có thể trái với cách gọi thông thường , mục đích để cho các bậc cao minh hơn kết luận hầu nâng cao nhạc lý truyền thống .

1 . Đờn Kìm , Nguyệt Cầm , Đờn Nguyệt

Từ xưa đến nay , cây Đờn Kìm được gọi tên là Đờn Kìm hoặc Nguyệt Cầm hoặc Đờn Nguyệt . Cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Thinh , một nhà sưu tầm nghiên cứu nhạc Tài Tử kể lại là có một số nhạc sĩ tiền bối trước kia cho rằng sở dĩ Nguyệt Cầm được gọi tên là Đờn Kìm vì các thầy đờn khi dạy học trò dù là dạy đờn tranh , đờn tỳ bà , hay đờn cò gì thì cũng lấy Đờn Kìm để đờn kèm học trò , và do cách phát âm , đọc trại chữ kèm thành kìm .

2 . Đờn Cầm Là Đờn Kìm

Một số học giả khác cho chữ kìm là do chữ cầm mà ra . Trong Xã Hội Nguyệt San số 6 xuất bản tháng 4 - 1966 , ông Thạc Nhân cho rằng Cầm là Nguyệt Cầm còn gọi là Đờn Kìm . Số tác giả của thuyết này còn dẫn chứng bằng khoa ngôn ngữ học với luật hoán chuyển của phát âm học thì chữ hán việt đọc ra chữ nôm : cầm thành kìm cũng như càng , càn thành kiềng , kiền , cang thành cương , cảnh thành kiểng . v . v ...

Nhóm này còn cho rằng đờn Diêu Cầm của vua Phục Hy được cải tiến thành đờn Cầm và đờn Cầm được nghệ nhân Việt Nam mô phỏng sáng chế ra Đờn Kìm , hợp thành những đôi nhạc cụ âm dương sắt cầm như tranh kìm chẳng hạn, nên Đờn Cầm xưa và Đờn Kìm ngày nay của ta có cùng một tên gọi rất là hợp lý .

3 . Phải Gọi Đờn Kìm Là Nhựt Cầm

Một nhóm khác trong đó có nhạc sĩ lão thành Hai Ngưu , tác giả quyển Cầm Ca Cải Tiến chủ trương phải gọi Đờn Kìm với cái tên là Nhựt Cầm . Hình tròn tượng trưng cho mặt trời chớ không phải là mặt trăng , lý do Đờn Kìm cũng như Đờn Cầm xưa kia gắn dây tơ đặc chế cho phái nam , hòa với Đờ n Sắt gắn dây đồng đặc chế cho phái nữ đàn . Hai nhạc cụ âm dương hòa nhau sắt cầm mới hảo hiệp . Đờn Đoản là một nhạc cụ nước ngoài được du nhập vào dàn nhạc ta đã có tên là Tứ Huyền Cầm ( đờn tứ ) không nên cho nó mang cái tên là Nhựt Cầm vì nó không hòa thuận cùng đờn Sắt hay đờn Tranh thành đôi nhạc cụ uyên ương trống mái được .

II - Đờn Kìm Được Chế Tác Vào Thời Nào ?

Trên khắp thế giới kể cả Trung Quốc , một nước láng giềng , nền văn hóa có nhiều điểm tương đồng với ta , cũng không thấy có nhạc cụ nào cấu trúc giống như Đờn Kìm , nhứt là cách gắn phím tra dây . Do đó ta có thể khẳng định nhạc cụ này hoàn toàn do nghệ nhân Việt Nam sáng chế , có chăng là chỉ có mô phỏng theo đờn Diêu Cầm của vua Phục Hy về dịch lý âm dương , nhưng sáng chế hay cải tiến vào thời đại nào thì sách vở xưa nay chưa hề thấy nói đến , chỉ đến thời Hậu Lê ta mới thấy rải rác trên sách vở có đề cập đến tên Nguyệt Cầm .

Thật vậy , An Nam Chí Lược của Lê Tắc ( 1300 ) chỉ ghi : ...Vua Trần ngự trên điện Đoan Cung xem ca công vũ nữ múa hát . Khi nói về đờn khảy thì quyển này chỉ thấy đề cập đến đờn Cầm , đờn Tranh , đờn Tỳ Bà , đờn Thất Huyền , đờn Song Huyền ...

Sứ Giao Châu Tập của viên sứ giả nhà Nguyên viết về ca vũ đời Trần cũng chỉ ghi : khi dự yến ở điện Tập Hiền , có vài mươi người con trai , con gái ngồi dưới chiếu hát , có đờn Tranh đờn Tỳ Bà cùng hòa với nhau ( Văn Thanh , Tìm Hiểu Ca Huế và Dân Ca Bình Trị Thiên ) .

Đến tài liệu sau đây ta mới thấy đờn Nguyệt xuất hiện . Theo Vũ Trung Tùy Bút của Phạm Đình Hổ , đời Lê Cảnh Hưng ( 1740 ) có ông Nguyễn Đình Địch và ông Vũ Chỉ Đồng cũng thích chơi đờn Nguyệt . Ông Vũ Chỉ Đồng học điệu Tàu biết đủ các cung bực rồi khảy ra tiếng ta và xen theo các bài đờn Đáy , đờn Nguyệt , tiếng cứng tiếng mền dịu dàng hợp nhau , bụng nghĩ thế nào thì khảy thế đó .

Theo Việt Nam Ca Trù của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề thì đờn Nguyệt có trước đờn Đáy . Về truyền thuyết Tổ cô đầu thì sách này ghi : Trong đời Lê có Đinh Lễ tự Nguyên Sinh quê làng Cổ Đạm ( Hà Tĩnh ) thường ôm Nguyệt Cầm đến bên suối khảy hòa với tiếng suối chảy chim kêu , một hôm vào vườn gặp hai ông tiên Lý Thiết Quài và Lữ Đại Tiên dạy cách sáng chế ra đờn Đáy .

III - Cấu Trúc Đờn Kìm

Đờn Kìm của ta có hình thức không giống đờn Diêu Cầm của vua Phục Hy hay đờn Cầm thời vua Thuấn , nhưng thông số kỹ thuật và phương pháp tạo âm thanh có nhiều điểm tương đồng với hai nhạc cổ này .

Để dễ thấy điểm tương đồng giữa Đờn Kìm và Diêu Cầm , tôi xin ghi sự cấu trúc của Diêu Cầm theo quyển Hiếu Cổ Đặc San III của học giả Vương Hồng Sển : Diêu Cầm do vua Phục Hy sáng chế , dài đo được 3 thước 6 tấc 1 phân ( thước mộc ) án theo 361 độ châu thiên , mặt trước rộng 8 tấc án theo 8 tiết , mặt sau rộng 4 tấc án theo 4 mùa , bề dày 2 tấc án theo lưỡng nghi , có 12 phím tượng trưng 12 tháng trong 1 năm , lại có 1 phím lẻ ở giữa tượng trưng tháng nhuần , trên mắc 5 dây , ngoài tượng ngũ hành , trong tượng ngũ âm : Cung , Thương , Vốc , Vũ , Chũy .

Đờn Kìm có thùng cộng hưởng hình tròn , đường kính 36 cm , bề dày của thùng 6,4 cm , trên thùng gắn yếm chạm hình dơi , trên đầu cần có dá đờn dài 12 cm , toàn bộ Đờn Kìm dài 108 cm , trên đầu cần gắn con cóc bằng cây , khoảng cách dây đờn để phát ra âm thanh tính từ miệng dơi đến đầu cóc dài 72 cm , cần đờn gắn 4 trục , trước kia gắn 4 day ( 2 dây chập một ) , hiện nay 2 dây , gắn 8 phím phát 9 thanh âm .

So sánh , chúng ta thấy Đờn Kìm của ta có con số kích thước dù tính theo thước tây vẫn đúng theo tỷ lệ tượng số học đông phương . Chiều dài Diêu Cầm và Đờn Kìm bằng nhau ( 3 thước 6 tấc 1 phân tương đương 108 cm ) . Thùng Đờn Kìm mặt hình tròn án theo thái cực , trên mắc 2 dây án theo lưỡng nghi , dây Tồn trầm ( dương ) , dây Tang bổng ( âm ) , 4 trục án theo tứ tượng ( 4 mùa ) , gắn 8 phím án theo bát quái ( 8 tiết ) , khảy phát ra 9 âm thanh : Hò , Xự , Xang , Xê , Cống , Liu , Ú , Xáng , Xế tượng trưng cho một dòng biến hóa hở từ số 1 đến số 9 .

Mỗi âm thanh khi nhấn nhá tạo 4 âm thanh . Như vậy với 2 dây âm và dương , chúng ta biến ra được 36 + 36 = 72 âm thanh . Do đó trong giới nhạc Tài Tử thường cho rằng nhạc sĩ nào kết hợp nhuần nhuyễn 2 vòng biến hóa hở của âm và dương trên 2 dây đờn tạo được 72 âm thanh nghe hay và tuyệt thì đã đạt được trình độ thất thập nhị huyền công .

Đờn Kìm tuy số dây và số phím ít hơn đờn Diêu Cầm nhưng do nhấn nhá ta cũng đạt được một số lượng âm thanh rất dồi dào phong phú , đủ khả năng diễn đạt mọi lời nói và tình cảm con người .

Đờn Kìm đến nay vẫn hiện đại . Cấu trúc của nó đã đạt được tất cả thông số về kỹ thuật và các số này đều tương ứng với tượng số học đông phương 1 , 2 , 4 , 8 , 12 , 36 , 64 , 72 , 108 .

IV - Kết Luận

Muốn bảo tồn và phát huy những vốn quí dân tộc trong đó có vấn đề giữ gìn và cải tiến nhạc cụ dân tộc , chúng ta đừng vội vàng căn cứ vào khoa học vật chất và triết học tây phương để kết luận , có như thế mới tránh khỏi những sai lầm . Quan niệm Đông và Tây khác nhau về nhiều điểm . Nhạc ta theo hệ thống nhạc ngũ cung đông phương . Nhạc tây phương theo bát độ ( octave ) . Người phương đông chuộng về phẩm không chuộng về lượng , bao giờ cũng dùng đến ôn nhu trong mọi cách xử thế nên trong lãnh vực âm nhạc , ta cũng dùng kỹ thuật mềm mại nhấn nhá để tạo âm thanh . Nhạc cụ không cần nhiều phím , nhiều dây như nhạc cụ tây phương , vì tăng con số càng nhiều càng đi xa nguồn cội : Viễn Viết Phản , và Sanh Giả Nhu Nhược , Kỳ Tử Giả Kiên Cường ( mền dẻo là hiện tượng của sự sống , cứng rắn là hiện tượng của cái chết ( Lão Tử ) ) .

Tóm lại , Đờn Kìm do nghệ nhân Việt Nam sáng chế , tạo được tính năng ôn nhu thích hợp với âm nhạc truyền thống dân tộc . Ta không cần thêm dây thêm phím vì nó vẫn còn trẻ trung và hiện đại đúng tinh thần dịch học đông phương .


 
Nguyễn Tấn Nhì

SOẠN GIẢ MỘNG VÂN

Tên họ thật của ông là Phan Long Trung, sau đổi lại Trần Tấn Trung, lại có tên riêng là Mộng Vân – cái tên thơ mộng này được ông dùng làm nghệ danh trong cả cuộc đời. Lúc sinh thời Mộng Vân vốn là một nhà báo, một nhạc sĩ, cũng vừa là một soạn giả; mỗi lãnh vực ông đều nổi bật với nhiều ưu điểm lớn; tiếng tăm của ông vang dội khắp nơi, tác phẩm nghệ thuật của ông một thời được ái mộ nhất. Thế mà từ trước nay tài liệu nói về cuộc đời của ông rất hiếm hòi, ít ai biết nhiều về người nghệ sĩ tài hòa này, cả đến thân nhân và đệ tử của ông mỗi người cũng chỉ biết được một vài phương diện.

Theo lời vợ của ông là bà Phạm Ngọc Dung thì ông sinh năm Canh Tuất (1910) tại làng Vĩnh Lợi tổng Thạnh Hòa tỉnh Bạc Liêu (nơi sinh của ông hiện nay thuộc khu vực Trà Văn thị xã Bạc Liêu), thuở nhỏ ông học chữ Nho với ông Cả Tòng và có đến trường để học chữ Pháp và chữ Quốc ngữ, nhờ trời phú cho trí thông minh nên ông học rất giỏi. Nhưng ông là người có chí khí hơn người, nên sau khi rời khỏi ghế nhà trường ông không làm việc cho Pháp.

Ông sớm có ý thức về cách mạng, nhất là cách mạng văn hòá, nên khi được Trần Đình Tuệ mời ông cộng tác cho tờ báo La Cloche Fêlée (Cái chuông rè), ông thấy đây là phương tiện rất tốt để thực hành ý định của mình, nên đã viết một số bài báo để phản ảnh tình hình xã hội lúc bấy giờ, trong những bài viết ông luôn gói ghém ý nghĩa cải tạo xã hội và canh tân đất nước. Lúc đó ông chưa chính thức gia nhập tổ chức cách mạng nào, nhưng vẫn thường xuyên qua lại và trao đổi ý kiến với nhà cách mạng Nguyễn An Ninh nên bị mật thám Pháp theo dõi. Đến đầu năm 1928 ông mới chính thức tham gia Hội Kín - một tổ chức chống Pháp của Nguyễn An Ninh, nhưng nhưng đến cuối năm đó, trong một đêm họp mặt với Nguyễn An Ninh và nhiều chiến sĩ cách mạng khác, do tin tức bị lộ nên bị địch vây bắt; Nguyễn An Ninh và một số đồng chí bị tống giam còn ông và Trần Đình Tuệ trốn thoát, nhưng sau đó lại phải bỏ xứ sang Nam Vang để lánh mặt; cũng trong thời gian này ông tự cải cải sửa tên họ từ Phan Long Trung thành Trần Tấn Trung để tránh sự truy tầm của Pháp.

Trong thời thơ ấu khi còn là học sinh, Mộng Vân đã để ý đến cổ nhạc, lại may mắn được học nhạc với một bậc danh sư là Nhạc Khị nên tiến bộ rất nhanh; như trên đã nói ông vốn là cậu bé thông minh nên học chữ cũng mau mà học nhạc cũng giỏi, chỉ trong vài năm là Mộng Vân đã nắm bắt được gần như trọn vẹn sở đắc của thầy. Nhưng sau đó vì phãi bận rộn trong nhiều công việc nên chưa phát huy cái khả năng về cổ nhạc. Mãi đến khi trốn chạy lên Nam Vang ông mới có thì giờ nghiên cứu lại mọi vấn đề về cổ nhạc mà ông đã học được. Mặc dù Mộng Vân đờn rất giỏi, nhưng ông không chỉ siêng năng luyện tiếng đờn mà còn chú ý về mặt sáng tác. Một số đồng môn huynh đệ của Mộng Vân từng nói ông đã chịu ảnh hưởng về tư tưởng và việc làm của Trịnh Thiên Tư; điều này có lẽ đúng, vì các sáng tác phẩm của ông đa số đều mượn “cổ” nói “kim”, đa số đều có ý nghĩa canh tân trong đó.

Năm 1932, Mộng Vân đã viết xong một kịch bản lớn – đây là vở cải lương đầu tay của ông mang tên Quan Công hiển thánh, vở này đề cao tình bè bạn, lòng trung nghĩa và tính ngay thẳng của con người. Sau khi viết xong kịch bản, Mộng Vân trở về An Giang nhờ người mang tập bản thảo xuống Bạc Liêu trao cho soạn giả Trịnh Thiên Tư nhờ góp ý. Trịnh Thiên Tư sau khi xem xong nhận thấy nội dung của kịch bản rất hay, tình tiết nhân vật rất hấp dẫn thật phù hợp với hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ, nên đã giới thiệu với ông Đốc Tùng. Lúc này ông Đốc Tùng đang quy tụ đào kép để lập đoàn Thái Dương may lại được một vở tuồng hay như thế nên ông đã chọn để khai trương cho đoàn hát của ông. Trong đêm khai trương mặc dù là tuồng tích mới, diễn viên cũng mới, không sao tránh được những bỡ ngỡ lúc đầu nhưng với phục trang sặc sỡ, cảnh trí huy hoàng và giọng ca thật mùi của dàn đào kép Hai Nhuận, Chín Quy, Tư Luông, Năm Út, Ba Chương (Ba Vàm Lẻo), Năm Đặng… nên được khán giả ái mộ và hoan nghênh nhiệt liệt; các nhạc sĩ nổi tiếng vào bậc nhất ở Bạc Liêu Lúc bấy giờ như: Sáu Lầu, Ba Chột, Hai Tài, Bảy Cuội, Bảy Giáo, Mười Đờn đều có mặt trong ban nhạc của vở diễn, khiến cho đêm khai trương càng thêm long trọng .

Năm 1933, ở Bạc Liêu lại xuất hiện một đoàn hát mới đó là đoàn Huỳnh Vân của Ký Huỳnh và Tám Tắc Vân; soạn giả Mộng Vân đã viết vở Nghĩa nhẹ hơn tình cho đoàn này khai trương, cũng đuợc sự ủng hộ rất nhiệt tình của khán giả.

Trong ba năm từ 1934 đến 1936, ông đã viết tiếp các vở Gương Quốc Sĩ, Tráng sĩ Kinh Kha, Lưỡng Lonng đại hiệp, Hồng châu hiệp nữ cho các đoàn Tân Hí và Hề Lập. Mỗi vở trong bốn vở này đều có cái hay riêng, nhưng vở Tráng sĩ Kinh Kha được mọi người chú ý, kể như là vở tuồng ăn khách lúc bấy giờ; riêng hai vở Lưỡng Long đại hiệp và Hồng châu hiệp nữ (còn có tên Gìn nhiệm vụ) đã làm cho Bảy Cao nổi tiếng.

Tư năm 1937 đến năm 1939, Mộng Vân đã biên soạn một loạt các vở: Huyết chiếu hận thù, Cõi lòng tan nát, Lửa lòng thiếu phụ, Hồng Long quái khách I, Hồng Long quái khách II , Hồng Long quái khách III , Hiệp khách xa trường, Lữ Thành Đồng, Độc Long lão hiệp, Mộ cô Hồng (còn có tên Hiếu nặng hơn tình và Tình trong suối lệ), Thuyền về, Đảng Chiếc lá vàng I, Đảng Chiếc lá vàng II, Đêm kinh khủng, Trường xích đạo I, Trường xích đạo II, Trường xích đạo III, Tướng cướp Tuyệt Long Sơn (vở này trước đó đã có hai tên: Tráng sĩ Kích và Tráng si Mách), Người ba mặt và Hiệp Vân Long. Riêng ba thứ Hồng long quái khách thường được khán giả gọi nôm na là Con rồng đỏ nhưng sau đó lại đổi tên là Long hình quái khách; còn vở Đảng chiếc lá vàng sau đó cũng được sửa lại là Chiếc lá vàng.

Năm 1940, ông Trần Khâm Thành (Năm Thành) và vợ là bà Phạm Thị Điệp (Chín Điệp) lại lập đoàn Chấn Hưng ở Bạc Liêu, Mộng Vân đã đưa vở Trong khói lửa cho đoàn này khai trương. Từ đó đến năm 1943, ông tiếp tục biên soạn rất nhiều vở cho nhiều đoàn hát khác như: Bích Liên vương nữ, Ái tình và nghĩa vụ, Trái tim không máu I, Trái tim không máu II, Người cha tội ác, Xâu chuỗi ngọc I, Xâu chuỗi ngọc II, Xâu chuỗi ngọc III (ba vở này lúc đầu có tên la Mặt nạ đỏ), Tuổi thanh niên trong hai quan niệm, Máu kẻ thù (còn có tên Ông Ba đập đá, Giọt máu công nhân, sau đổi lại Bảo Nguyệt nương), Giọt máu sông Hằng (trước đó có tên là Cành hoa trước gió, sau đó được Nghệ sĩ Bảy Cao sửa lại chút ít và đổi tên là Hoàng Hà đẩm máu), Bên kia thành, Mối tình tan vỡ (sau đổi là Hoàng tử lưng gù).

Năm 1944, Mộng Vân lập đoàn hát Mộng Vân, các nghệ sĩ nhờ kịch bản của ông mà nổi tiếng nên đã trở về gia nhập rất đông. Trong thời gian này Mộng Vân rất bận bịu, ông phải làm bầu, vừa làm soạn giả kiêm cả đạo diễn; ông đã viết các vở thật ăn khách cho đoàn của ông như : Đêm tơ vương, Lửa thù, Tố nữ, Thử lửa, Triều Tiên vong quốc sử I, Triều Tiên vong quốc sử II, Sự chiến thắng của trái tim. Cũng trong thời gian đó nếu có đoàn hát nào yêu cầu về tuồng tích ông cũng sẵn sàng phục vụ; ví dụ như năm 1946, ông Tư Chức lập đoàn Oanh Vàng, Mộng Vân đã viết vở 714 cho ông Tư khai trương; tiếp theo là đoàn Tân Tiến ra đời, ông cũng viết luôn hai thứ Cành vàng trong lửa đỏ và Đội quân tình nguyện; đến khi Tư Râu lập đoàn Sao Mai cũng sử dụng của ông hai vở Chuỗi hận ngày xuân va Bác sĩ Thần Phương; sau đó theo lời yêu cầu của ông Tư Long và cô Tư Len, Mộng Vân đã viết ba vở Trên hoang đảo, Ái tình và huyết nhục, Đề Thám cho đoàn Tân Xuân.

Đoàn hát của Mộng Vân hoạt động được hơn một năm thì giải tán, nhưng toàn bộ diễn viên và công nhân được ông Ba Tẹt và cô Nguyệt Yến gom lại để lập đoàn Phát Thanh; Mộng Vân đã viết hai vở Nữ thần trong động lửa I và Nữ thần trong động lửa II cho đoàn nầy mở màn. Cũng trong thời gian đó đoàn Hậu Tấn Bảy Cao và Hậu Tấn Năm Nghĩa ra đời, Mộng Vân đã ủng hộ cho hai người đồng hương của mình bằng hai vở tuồng rất hấp dẫn: Bảy Cao với vở Cô gái Quảng Trị và Năm Nghĩa với vở Ngũ Tử Tư quá quan; sau đó ông còn viết thêm cho Năm Nghĩa các vở Phạm Lãi Tây Thi, Đôi Bạch Loan I và Đôi Bạch Loan II.

Trong khoảng cuối của cuộc đời, Mộng Vân vẫn còn đủ sức để biên soạn một loạt kịch bản rất đặc sắc cho các đoàn Nhạn Trắng, Thanh Minh, Hoa Sen… đó là các vở Ba ngọn đèn xanh, Lưỡi bén hơn gươm, Bên chiến lũy, Hội nghị nhị cường, Ngày về của thương binh và vở cuối cùng là Đất nước lâm nguy đã viết xong vào đầu năm 1948. Năm đó cũng là thời điểm Mộng Vân lâm bệnh, bệnh của ông càng lúc càng nặng đến nỗi ông không thể sáng tác được nữa, tình trạng ấy kéo dài được hơn một năm thì ông từ giã cõi đời. Cái chết của ông kể như một mất mát lớn, không những cho giới cổ nhạc Bạc Liêu mà còn cho cả ngành Cải lương Việt Nam.

Đặc điểm nghệ thuật của Mộng Vân là biết sáng tạo đúng lúc, đúng thời điểm, hợp với nhu cầu với thị hiếu của mọi người ; đồng thời ông biết cách củng cố các sáng tạo đó để đưa vào phục vụ trong thực tiễn :

– Ông đã màu sắc hóa trang phục diễn viên và làm lộng lẫy cảnh trí sân khấu để tạo sự hấp dẫn cho người xêm. Kịch bản của Mộng Vân được khán giả Nam bộ gọi là “tuồng hương xa kiếm hiệp”.

– Ông đã sử dụng chuyện xưa tích cũ, các truyện tích Tây, Tàu… với những tình tiết ly kỳ, rùng rợn, gay cấn… để hình thành kịch bản Cải lương, để tuyên truyền những cái hay cái tốt và để phản ánh những hình ảnh có thực trong xã hội lúc bấy giờ.

– Sáng tạo nổi bật nhất của Mộng Vân là việc ông sáng tác một số bản vắn để gối đầu vô Vọng cổ thay thế cho những câu nói lối đã có từ xưa. Ngoài ra trong khi biên soạn kịch bản Mộng Vân thường sử dụng những nhạc bản mới do chính ông sáng tác, điều này khác rất xa so vơí soạn giả khác, và cũng chính điều này đã chứng tỏ ông có khả năng rất lớn trong việc sáng tạo nhạc điệu. Theo lời các đệ tử của ông như Bảy Cao, Tám Vân thì các nhạc bản loại này có trên con số 30, nhưng hiện nay chúng tôi chỉ mới sưu tầm được 09 bản có ghi đầy đủ dấu nhạc đó là: Quý phi túy tửu, Sơn Đông hướng mã, Kiều nương, Bá hòa, Giang Tô điểu ngữ, Phòng nguyệt, Tấn phòng, Tân xái phỉ và Sương chiều.

– Trong cuộc Hội thảo khoa học về Hiện tượng Mộng Vân tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 29 tháng 03 năm 1991, nghệ sĩ Bảy Cao (Lê Văn Cao) đã xác nhận Mộng Vân là người đầu tiên kéo dài bản Dạ cổ hoài lang từ nhịp 2 sang nhịp 4 mà điển hình là bài Bá Lý Hề, ông còn nói thêm : “Lúc đó nghệ sĩ Tư Chơi (Huỳnh Thủ Trung) cũng có sáng tác một bài nhan đề là Ác lặn non đoài cũng theo thể điệu này”. Nhưng qua sự tra cứu thì vào những năm trong thập niên 30 của thế kỷ này, quả có 2 bài trên và một số bài khác trong các vở cải lương của Mộng Vân, nhưng tất cả những bài đó đều là những lời ca đã ra đời sau nhạc bản Dạ cổ hoài lang nhịp 4 của Trịnh Thiên Tư rất lâu; nói cách khác Mộng Vân và một vài người khác đã căn cứ vào lòng bản Dạ cổ hoài lang nhịp 4 đang có mặt lúc bấy giờ để biên soạn ra những lời ca nói trên, việc biên soạn lời ca dựa theo các lòng bản đã có sẵn để hoàn thành kịch bản là việc làm thông thường của soạn giả, việc làm này khác rất xa với việc trước tác hoặc canh tân một bản nhạc mới. Thực ra Mộng Vân không phải là người đầu tiên chuyển đổi bản Dạ cổ hoài lang từ nhịp 2 sang nhịp 4, nhưng đúng là người đầu tiên chuyển đổi bản Vọng cổ nhịp 8 thành bản Vọng cổ nhịp 16; chính nhạc sĩ Trần Tấn Hưng đã xác nhận “Sau khi bản Vọng cổ nhịp 8 của Năm Nghĩa ra đời tuy là một phát kiến lớn, nhưng Mộng Vân nói độ mùi chưa đủ nên sau đó ít lâu ông đã biên soạn nhạc bản Vọng cổ nhịp 16”; nhạc sĩ Trần Tấn Hưng còn nhấn mạnh “Chính tôi đã căn cứ vào bản này để chế tác ra bản Vọng cổ nhịp 32”. Như vậy, tuy Mộng Vân không phải là người đầu tiên chuyển đổi bản Dạ cổ hoài lang nhịp 2 sang nhịp 4, nhưng chính là người đầu tiên chuyển đổi bản Vọng cổ nhịp 8 thành nhịp 16; ông đã trực tiếp góp công bồi đắp cho bản Vọng cổ càng ngày càng phòng phú hơn .

Một đặc điểm khác là kịch bản của Mộng Vân mang tính phổ cập rất lớn, không kén người diễn và người xem. Một vở tuồng của ông cùng lúc được nhiều đoàn trình diễn như vở Bích Liên vương nữ đã được các đoàn Chấn Hưng, Nhạn Trắng, Tỷ Phượng, Lê Thành Lư cùng diễn trong một thời gian; hoặc vở Xâu chuỗi ngọc cũng được nhiều đoàn cùng diễn như: Chấn Hưng, Hậu Tấn Năm Nghĩa, Tiếng Chuông, Đồng Thinh…

Nhiều người đã nói Mộng Vân biên soạn kịch bản theo kiểu “Đo ni đóng giày”; điều này quả đúng như thế, mà đây cũng là một điểm ưu việt của Mộng Vân. Ví dụ như trường hợp của nghệ sĩ Ba Khuê vốn dĩ là một người to con, mặt lớn, sắc vóc có nhiều điểm hạn chế; vậy mà những hạn chế này đều biến thành ưu điểm khi Mộng Vân biên soạn vở Hoàng tử lưng gù, Ba Khuê được phân vai chính trong vở tuồng này, ông phải hóa trang thật xấu xí, độn lưng gù, quần áo rách rưới, ngoại hình thật bi đát cộng với giọng ca thật mùi của ông, nên chỉ diễn xong vở này ít lâu là Ba Khuê đã nổi tiếng. Ngoài ra đối với các nghệ sĩ Chín Quy, Năm Nghĩa, Út Trà Ôn, Bảy Cao, Trường Xuân… Mộng Vân cũng đều làm như thế cả. Cái cách viết tuồng tích tùy theo sắc vóc của diễn viên, tạo những điểm hạn chế của đối tượng thành những ưu điểm của nghệ thuật thật đúng là sở trường của Mộng Vân.

Các đặc điểm nghệ thuật của Mộng Vân không những đã ảnh hưởng sâu đậm đến nhiều soạn giả lúc bấy giờ như: Mộng Vân Tử, Bảy Cao, Năm Nghĩa, Vân Sinh, Văn Đưa, Sáu Hải, Văn Nghiêm, Tô Miều… và hàng loạt các tác giả, soạn giả hiện nay đã bắt chước theo lối sáng tác của ông. Với một lực lượng đông đảo, một chủ trương sáng tác rõ ràng và với một số lượng tác phẩm dồi dào như thế; vô hình trung đã trở thành một trào lưu nghệ thuật nói chung hoặc một trường phái sân khấu nói riêng. Soạn giả Mộng Vân thật đúng là con người vượt bậc, chỉ riêng về phần sáng tác của ông trong 16 năm cuối đời đã biên soạn 68 kịch bản (chưa kể một số kịch bản chưa ghi nhận được) và sáng tác hơn 30 nhạc khúc - một thời gian ngắn như thế mà hoàn thành được số lượng tác phẩm nghệ thuật lớn lao và giá trị như thế, quả thật ở Việt Nam khó có người thứ hai. Có thể nói Mộng Vân đã cống hiến gần như trọn vẹn cuộc đời của mình để bồi đắp cho nền cổ nhạc Nam bộ và đã mở ra một trường phái sân khấu cho Cải lương Việt Nam.

Trong sách Guinness Việt Nam Thế kỷ XX của Nhà xuất bản Trẻ do Huy Vĩnh biên soạn năm 2001, ở chương 19 trang 183 có đoạn viết: “Soạn giả viết nhiều vở cải lương nhất là hai soạn giả Hà Triều – Hòa Phượng (TPHCM) đã viết chung với nhau được gần 100 vở cải lương trước và sau năm 1975. Riêng một mình thì soạn giả Viễn Châu (TPHCM) đã viết hơn 50 vở”. Nếu theo sách Guinness Việt Nam Thế kỷ XX thì hai soạn giả Hà Triều và Hòa Phượng cùng viết chung cũng chưa đến 100 kịch bản, nếu chia làm đôi thì mỗi người chỉ được trên 40 kịch bản; còn soạn giả Viễn Châu tuy có số lượng kịch bản nhiều hơn, nhưng cũng chỉ dừng lại ở hàng năm. Như vậy, với số lượng 68 kịch bản như đã kể trên, soạn giả Mộng Vân mới đúng là người viết kịch bản Cải lương nhiều nhất ở Việt Nam. Không những ông viết kịch bản nhiều nhất mà thời gian viết kịch bản chỉ trong 16 năm (từ năm 1932 tới năm 1948) của ông cũng nhanh và ngắn nhất, nếu so với các đồng nghiệp của ông trong thế kỷ XX. Soạn giả Mộng Vân thật sự rất xứng đáng với hai danh hiệu kỷ lục này.
Trần Phước Thuận

Thursday, December 11, 2014

DANH CẦM BA CHỘT- LÊ VĂN CHỘT - LÊ VĂN TÚC

DANH CẦM BA CHỘT- LÊ VĂN CHỘT - LÊ VĂN TÚC
Là người con trai duy nhất của Nhạc Khị, từ thuở nhỏ, Ba Chột đã nổi danh là thần đồng cổ nhạc, chưa đến tuổi thành niên đã trở thành nhạc sĩ tài ba, tiếng tăm lừng lẫy vùng đất Tây Nam bộ. Ngoài 18 sáng tác về bài bản cổ nhạc, ông còn để lại cho đời một sản phẩm vô giá, đó là chiếc đàn sến ba dây với cách đàn đặc biệt.

Theo những người lớn tuổi ở Bạc Liêu kể lại, dù là nhạc sư rất nổi tiếng nhưng nhà Nhạc Khị lại rất nghèo. Vì tàn tật nên mọi sinh hoạt gia đình ông đều trông cậy vào vợ - bà Lê Thị Hai - trong việc mua bán rau cải ở chợ Bạc Liêu. Khi mang thai Ba Chột gần đến ngày sinh, trong một chuyến đò ra chợ, gặp mưa to gió lớn, bà trợt chân té xuống sông. Tuy bơi lội giỏi, nhưng do gần ngày sinh sức khỏe kém, bà cố gắng lội vào bờ. Suốt đêm hôm đó bà mê sảng, mơ thấy đang chèo xuồng gặp mưa to gió lớn, chiếc xuồng lật. Cố lội vào gần đến bờ, bà nghe tiếng la ú ớ, quay tìm thì thấy một bé trai đang chới với giữa dòng. Bất chấp nguy hiểm, bà cứu được đứa bé bị chột mắt này, trên cổ đeo món đồ chơi mang hình dáng chiếc đàn ba dây, thân có ba khía tròn như chiếc hoa mai sáu cánh. Khi đứa bé nhoẻn miệng cười, giữa sông vang lên tiếng nói: “Ta là Thủy thần, thấy ngươi hiền lành, lại có tánh thương người, nên cho ngươi đứa bé, mai sau nó làm rạng rỡ tổ tông”. Tỉnh giấc chiêm bao, chẳng mấy chốc bà sinh đứa bé trai. Bà kể giấc mơ và nói với chồng: “Con gái lớn của mình tên Sang mà chẳng đem lại gì tốt đẹp, thì đứa con này mình đặt đại tên Chột theo chiêm bao, biết đâu...”. Ngoài câu chuyện truyền khẩu trên, còn có người nói rằng: Khi đứa bé ra đời, gia đình Nhạc Khị rất túng thiếu nên đặt tên con là Túc, nghĩa là đủ. Ông vốn là người Triều Châu, nên Túc được phát âm giống giống “chọt” hoặc “chột”, vì vậy mới có tên Chột.

Cả hai giai thoại trên đều đúng, vì tên họ thường dùng của ông là Lê Văn Chột, trên bia mộ cũng thế, còn các loại giấy tờ tùy thân đều ghi Lê Văn Túc. Ngoài tên ra, năm sinh của Ba Chột cũng có nhiều rắc rối. Có người nói ông sinh năm 1901 hoặc 1902, có người nói 1907. Thực ra ông vốn tuổi Quý Mão (1903), nhưng khi làm giấy căn cước không biết sao lại ghi là 1907. Khi nhận giấy ông mới phát hiện, nhưng ngại thủ tục phiền phức nên không làm lại.

Bởi nhà nghèo nên từ thuở ấu thơ, hằng ngày Ba Chột đều phải giúp mẹ và chị trong việc buôn bán, bếp núc, giặt giũ và nhiều công việc cực nhọc khác. Chính hoàn cảnh sống khắc nghiệt đó đã hun đúc cho ông nhiều nghị lực vượt qua những sóng gió của cuộc đời để trở thành một nhạc sĩ tài danh. Vốn được trời cho cái trí thông minh xuất chúng, học đâu nhớ đó, lại được cha hết lòng chỉ dạy, nên năm vừa tròn mười tuổi, ông đã đàn đủ ba Nam, sáu Bắc, đủ sức hòa tấu cùng những nhạc sĩ lớn tuổi. Người bạn tâm đắc nhất của ông là Sáu Lầu (Cao Văn Lầu). Hai người rất hợp tính nên thường xuyên hòa tấu, luyện ngón với nhau. Có lẽ nhờ lý do này nên khi hai bản Liêu giang (của Ba Chột) và Dạ cổ hoài lang (của Sáu Lầu) ra đời đã có nhiều điểm tương đồng.

Vốn là người có số đào hoa nên thời thanh xuân ông có rất nhiều người yêu. Từ đó, xuất hiện lắm câu chuyện tình ly kỳ, hấp dẫn. Nhưng người vợ của ông - bà Thái Thị Phụng, người Bạc Liêu - thì do cha mẹ hai bên đính ước. Hai vợ chồng ông có ba người con: Lê Thị Kim Hồng, Lê Văn Em và Lê Phát Hòa. Cả ba người đều nối nghiệp ông, trở thành diễn viên cải lương Nam bộ. Riêng Lê Phát Hòa còn tham gia cả ngành điện ảnh, đã đóng một số phim ở Việt Nam.

Là người con hiếu thảo, Ba Chột phụng dưỡng kỹ càng cha mẹ, coi sóc mọi việc trong nhà, nhất là khi cô Hai Sang lấy chồng. Do cha bị dị tật đi đứng khó khăn nên ông phải túc trực ngày đêm đỡ đần cha trong mọi trường hợp. Ngoài ra, ông còn thay cha hướng dẫn những người đến học đàn. Có rất nhiều người tuy mang danh học trò Nhạc Khị nhưng đa số đều do Ba Chột tận tình hướng dẫn. Cũng bởi hoàn cảnh này nên ông rất ít cộng tác với các đoàn hát, thậm chí cả đời ông hiếm khi rời khỏi Bạc Liêu. Nhưng sự nghiệp của ông thì vượt ra khỏi địa giới này. Chỉ tính riêng số lượng sáng tác phẩm cổ nhạc của ông cũng đã là một kho tàng vô giá. Ngay từ những năm chưa đến tuổi hai mươi, ông đã cùng các bạn đồng môn tham gia sáng tác theo chủ đề “Chinh phụ vọng chinh phu” do cha ông hướng dẫn. Ông đã sáng tác một nhạc phẩm tuyệt vời, có lẽ nó thơ mộng và êm đềm như dòng sông Bạc Liêu nên sau đó được cha ông đặt cho cái tên Liêu giang. Bản này gồm 16 câu nhịp 4, chính thức ra đời vào năm 1919 (sau bản Dạ cổ hoài lang 1 năm). Lúc đầu bản Liêu giang được trình bày bằng dây bắc, nhưng sau đó ít lâu ông lại sáng tác thêm bản Liêu giang dây oán cũng gồm 16 câu 4 nhịp. Từ đó về sau, nhạc sĩ Ba Chột còn liên tục cho ra đời các bản:
- Liêu giang (1919)
- Ngũ quan (1920);
- Lý con sáo (1921);
- Mẫu đơn, Thuấn hoa (1923);
- Huỳnh ba (1925);
- Cảnh xuân (1929);
- Hòa duyên (1930);
- Vạn thọ (1935);
- Tam quan nguyệt (1938);
- Lưỡng long, Nhật nguyệt (1939);
- Tứ bửu Liêu thành (1940).
Ngoài ra, ông còn soạn lục và canh tân các bản:
- Xuân nữ, Tẩu mã (1924);
- Kim tiền bản, Ngự giá (1926)
- Tô Vũ mục dương (1936).
Tất cả 18 bản đều được sử dụng rất rộng rãi trong giới đàn ca tài tử và sân khấu cải lương từ trước đến nay, nhất là các bản Liêu giang, Xuân nữ, Lý con sáo, Kim tiền bản đã được phổ biến từ Nam chí Bắc.

Không chỉ là tác giả của nhiều giai điệu, nhạc phẩm mà nhạc sĩ Ba Chột còn là người sáng tạo ra nhạc cụ, đó là chiếc đàn sến ba dây đang được sử dụng hiện nay. Để có chiếc đàn này, ông đã bỏ công một thời gian rất dài và đã nhiều phen thất bại. Thân đàn được làm bằng gỗ vông đồng, có hình dáng chiếc hoa mai 6 cánh, cán làm bằng lõi cây tra. Toàn bộ chiếc đàn được làm bằng vật liệu địa phương, trừ ba chiếc dây nilon là phải mua. Sau khi hoàn thành, ông tiếp tục sáng tạo ra phương pháp đặc biệt để sử dụng. Chính chiếc đàn kỳ lạ này đã làm cho tên tuổi nhạc sĩ Ba Chột một thời vang dội...

Ngày Thanh minh, 12-3 năm Quý Mão (5-4-1963), nhạc sĩ Ba Chột lìa đời, chiếc đàn ba dây của ông để lại cho sư đệ là nhạc sĩ Năm Nhỏ (Trần Tấn Hưng). Nhạc sĩ Năm Nhỏ rất trân trọng chiếc đàn này, xem như một vật kỷ niệm rất quý báu, nên bảo quản rất kỹ. Nhưng, đây chỉ là vật làm bằng gỗ thường, nên dù ông cố gắng gìn giữ cũng không thể tồn tại mãi với thời gian: Năm 1985, khi gia đình ông khui thùng thì chiếc đàn đã mục nát tự bao giờ! Phỏng theo kiểu dáng của nó, người ta làm lại chiếc đàn khác, nhưng vì cách sử dụng rất khó, đòi hỏi công phu luyện tập rất lớn, nên hiện nay loại đàn sến ba dây này không được phổ biến cho lắm, dù nó là nhạc cụ tuyệt vời, sản phẩm tinh kỳ của người nhạc sĩ tài ba đất Bạc Liêu.

Nhạc sĩ Ba Chột thực sự đã có những đóng góp rất lớn, không những cho giới cổ nhạc Bạc Liêu, mà còn cho cả nền cổ nhạc Nam bộ. Có thể nói mỗi tác phẩm của ông đều là tinh hoa nghệ thuật rất thích dụng cho đàn ca tài tử và sân khấu cải lương. Thế mà từ trước đến giờ chưa có bài viết nào về cuộc đời và sự nghiệp của ông, chưa có một đánh giá cụ thể nào về công lao của ông, cả mồ mả của ông sau chùa Vĩnh Phước An (gần khu di tích Cao Văn Lầu) cũng chỉ là nấm đất hoang, nếu không được người trong chùa chỉ điểm có lẽ người ta sẽ không bao giờ dám nghĩ đây là ngôi mộ của một nghệ sĩ đã từng một thời vang bóng.

Trần Phước Thuận