1/ HỎI : Hãy định nghĩa tài tử là
gì?
ĐÁP: Tài tử là người có tài. Tài ở đây là giỏi về một môn hoặc một số môn nghệ thuật nào đó. Tài tử dùng nghệ thuật để di dưỡng tâm hồn, để nói lên cái đúng, cái hay, cái đẹp với chính mình và với người khác.
2/ HỎI: Hãy phân tích sự giống nhau và sự khác nhau giữa âm nhạc tài tử Nam bộ và nhạc cải lương.
ĐÁP: Cái giống nhau là: tài tử và cải lương đều sử dụng chung các điệu thức trong dòng nhạc tài tử Nam bộ.
- Cái khác nhau là: tài tử là ca nhạc thính phòng. Cải lương là nghệ thuật sân khấu ( nhạc tài tử phát triển tạo ra cải lương )
- Ca tài tử đờn vô trước, ca vô sau. Cải lương ca vô trước.
- Tài tử: đờn cũng như ca, dùng sự êm ả, sâu sắc, tế nhị để diễn tả giọng ca và ngón đờn là chính. Cải lương dựa vào nhân vật, biểu diễn thể hiện tính cách nhân vật nên cường độ, tiết tấu ca, đờn cũng khác hơn theo tình cảm hỉ, nộ, ái, ố bộc lộ mạnh hơn.
- Về bài bản tài tử Nam bộ thường ca trọn bài, còn cải lương sử dụng từng đoạn cần thiết, có khi sử dụng giữa bản nhạc hoặc những câu cuối bản nhạc cho phù hợp kịch tính và tính cách nhân vật.
3/ HỎI: Nhạc tài tử Nam bộ ngoài 20 bài Tổ và nhạc “ cải tiến”, còn có những “ môn nhạc” nào khác nữa?
ĐÁP: Nhạc tài tử Nam bộ ngoài 20 bài Tổ và nhạc “ cải tiến”, còn có những “ môn nhạc” sau:
- Bản nhỏ cổ điển như: Bình bán vắn, Lưu thủy đoản, Kim tiền huế v.v…
- Môn cổ nhạc canh tân từ nhạc sân khấu của Mộng Vân được tài tử sử dụng như: Giang Tô, Kiều nương v.v…
- Về Lý: ( còn gọi là ca nhạc dân gian ): Lý con sáo, Lý giao duyên v.v…
Tóm lại về bài bản trước kia và hiện nay giữa tài tử và cải lương đều sử dụng chung. Song các bản nhỏ, cổ nhạc canh tân, lý (dân ca) thì cải lương sử dụng nhiều hơn…
4/ HỎI: Trong dàn nhạc tài tử có người ca thì khi lấy dây, cao độ của âm Hò dựa vào cái gì để lấy dây?
ĐÁP: Trong dàn nhạc tài tử có người ca thì khi lấy dây, cao độ của âm Hò dựa vào người ca để lấy dây. Có vậy đờn ca mới hay …
5/ HỎI: Hai từ “ đờn thúc” , “ đờn hưỡn” có nghĩa gì trong diễn tấu nhạc?
ĐÁP: “ Đờn thúc” là tốc độ nhịp nhanh, “ đờn hưỡn” là đờn lơi hơi.
6/ HỎI: Bốn điệu thức NHẠC TÀI TỬ Nam bộ thể hiện tính chất khác nhau như thế nào?
ĐÁP: : Bốn điệu thức NHẠC TÀI TỬ Nam bộ gồm:3 Nam, 6 Bắc, 7 Bài, 4 Oán, đều có tính chất nhac khác nhau như:
- 6 Bắc: tính chất VUI, HÙNG, DỨT KHOÁT . Song cũng có khác chút ít như Cổ bản thì ôn hòa, nhẹ nhàng mà kiên định như Bình bán chấn, ung dung-êm đềm như Lưu thủy trường
- 7 Bài Lể: tính chất HÙNG HỒN, NGHIÊM TÚC, UY NGHI. Song có khác chút ít như Xàng xê có thêm chất Bi, Hùng.
- 3 Bài Nam: Hưỡn đãi, thư thả, đường hoàng, tế nhị. Song Nam xuân vui lâng lâng, Nam Ai buồn não nuột, Nam đảo kiên định cứng rắn hơn.
- 4 Oán: Buồn đau, quân tử, sâu sắt, tế nhị. Song Giang nam có tính chất uất ức, oán trách hơn.
7/ HỎI: Người ca phải làm gì khi ca 1 bài nào đó trong 4 điệu thức nhạc tài tử Nam bộ với tính chất của chúng?
ĐÁP: Khi tiếp xúc với bài ca nào đó, thì người ca phải biết nó nằm trong điệu thức nào? Tính chất nó ra sao? Để thể hiện cho đúng, không bị lai. Tránh lấy bản vui Tây Thi ca cho các bản thuộc bộ môn khác như 7 bài Lễ. Hoặc lấy giọng mùi của vọng cổ ca cho các bản buồn khác như Trường tương tư, hay các bản Oán, Nam ai (đây là nhược điểm thường gặp của người mới học ca tài tử)
ĐÁP: Tài tử là người có tài. Tài ở đây là giỏi về một môn hoặc một số môn nghệ thuật nào đó. Tài tử dùng nghệ thuật để di dưỡng tâm hồn, để nói lên cái đúng, cái hay, cái đẹp với chính mình và với người khác.
2/ HỎI: Hãy phân tích sự giống nhau và sự khác nhau giữa âm nhạc tài tử Nam bộ và nhạc cải lương.
ĐÁP: Cái giống nhau là: tài tử và cải lương đều sử dụng chung các điệu thức trong dòng nhạc tài tử Nam bộ.
- Cái khác nhau là: tài tử là ca nhạc thính phòng. Cải lương là nghệ thuật sân khấu ( nhạc tài tử phát triển tạo ra cải lương )
- Ca tài tử đờn vô trước, ca vô sau. Cải lương ca vô trước.
- Tài tử: đờn cũng như ca, dùng sự êm ả, sâu sắc, tế nhị để diễn tả giọng ca và ngón đờn là chính. Cải lương dựa vào nhân vật, biểu diễn thể hiện tính cách nhân vật nên cường độ, tiết tấu ca, đờn cũng khác hơn theo tình cảm hỉ, nộ, ái, ố bộc lộ mạnh hơn.
- Về bài bản tài tử Nam bộ thường ca trọn bài, còn cải lương sử dụng từng đoạn cần thiết, có khi sử dụng giữa bản nhạc hoặc những câu cuối bản nhạc cho phù hợp kịch tính và tính cách nhân vật.
3/ HỎI: Nhạc tài tử Nam bộ ngoài 20 bài Tổ và nhạc “ cải tiến”, còn có những “ môn nhạc” nào khác nữa?
ĐÁP: Nhạc tài tử Nam bộ ngoài 20 bài Tổ và nhạc “ cải tiến”, còn có những “ môn nhạc” sau:
- Bản nhỏ cổ điển như: Bình bán vắn, Lưu thủy đoản, Kim tiền huế v.v…
- Môn cổ nhạc canh tân từ nhạc sân khấu của Mộng Vân được tài tử sử dụng như: Giang Tô, Kiều nương v.v…
- Về Lý: ( còn gọi là ca nhạc dân gian ): Lý con sáo, Lý giao duyên v.v…
Tóm lại về bài bản trước kia và hiện nay giữa tài tử và cải lương đều sử dụng chung. Song các bản nhỏ, cổ nhạc canh tân, lý (dân ca) thì cải lương sử dụng nhiều hơn…
4/ HỎI: Trong dàn nhạc tài tử có người ca thì khi lấy dây, cao độ của âm Hò dựa vào cái gì để lấy dây?
ĐÁP: Trong dàn nhạc tài tử có người ca thì khi lấy dây, cao độ của âm Hò dựa vào người ca để lấy dây. Có vậy đờn ca mới hay …
5/ HỎI: Hai từ “ đờn thúc” , “ đờn hưỡn” có nghĩa gì trong diễn tấu nhạc?
ĐÁP: “ Đờn thúc” là tốc độ nhịp nhanh, “ đờn hưỡn” là đờn lơi hơi.
6/ HỎI: Bốn điệu thức NHẠC TÀI TỬ Nam bộ thể hiện tính chất khác nhau như thế nào?
ĐÁP: : Bốn điệu thức NHẠC TÀI TỬ Nam bộ gồm:3 Nam, 6 Bắc, 7 Bài, 4 Oán, đều có tính chất nhac khác nhau như:
- 6 Bắc: tính chất VUI, HÙNG, DỨT KHOÁT . Song cũng có khác chút ít như Cổ bản thì ôn hòa, nhẹ nhàng mà kiên định như Bình bán chấn, ung dung-êm đềm như Lưu thủy trường
- 7 Bài Lể: tính chất HÙNG HỒN, NGHIÊM TÚC, UY NGHI. Song có khác chút ít như Xàng xê có thêm chất Bi, Hùng.
- 3 Bài Nam: Hưỡn đãi, thư thả, đường hoàng, tế nhị. Song Nam xuân vui lâng lâng, Nam Ai buồn não nuột, Nam đảo kiên định cứng rắn hơn.
- 4 Oán: Buồn đau, quân tử, sâu sắt, tế nhị. Song Giang nam có tính chất uất ức, oán trách hơn.
7/ HỎI: Người ca phải làm gì khi ca 1 bài nào đó trong 4 điệu thức nhạc tài tử Nam bộ với tính chất của chúng?
ĐÁP: Khi tiếp xúc với bài ca nào đó, thì người ca phải biết nó nằm trong điệu thức nào? Tính chất nó ra sao? Để thể hiện cho đúng, không bị lai. Tránh lấy bản vui Tây Thi ca cho các bản thuộc bộ môn khác như 7 bài Lễ. Hoặc lấy giọng mùi của vọng cổ ca cho các bản buồn khác như Trường tương tư, hay các bản Oán, Nam ai (đây là nhược điểm thường gặp của người mới học ca tài tử)
8/ HỎI: Xuất xứ cây đờn
ghi ta Việt Nam và tính năng tác dụng của nó?
ĐÁP: Cây đờn ghi ta xuất xứ ở nước Tây Ban Nha ( còn gọi là Tây Ban cầm ), được người Việt Nam móc phím lõm để đờn tài tử. Đầu tiên, có người nói là do thầy giáo Tiên ở Rạch giá dùng đờn Măng đô lin tập đờn vọng cổ. Nên sau đó mới dùng đến ghi ta móc phím ( vì đờn măng đô lin và ghi ta giống nhau về sắp phím)
- Cây đờn ghi ta có tiếng kêu trong sắc bén, vang xa. Có âm điệu phong phú. Về tác dụng thì rất rộng, có hòa tấu nhiều cây, nó vẫn nổi trội, nếu một mình nó vẫn đệm cho ca được dễ dàng.
Xưa đờn kìm là chính, ngày nay xu hướng chung cây đờn ghi ta phím lõm là nhạc cụ chính của sân khấu cải lương…
9/ HỎI: Vì sao phải đờn và ca đúng theo nguyên tác bản Dạ cổ hoài lang? Nếu đờn và ca sai sẽ như thế nào? Ví dụ vài chỗ đờn sai, ca sai?
ĐÁP: Phải đờn và ca đúng theo bản gốc Dạ cổ hoài lang vì tôn trọng tính lịch sử của tác phẩm lúc nó ra đời. Hơn nữa nguyên tác rất đúng với luật NHẠC và VĂN HỌC nên không tự tiện đờn ca theo ý mình.
- Ví dụ sai về Nhạc: câu 5,11 và 19 dứt XÀNG, nhưng có nơi lấy chữ nhạc vọng cổ nhịp 16, 32 mà đưa vào như: câu 5 dứt XỀ, câu 11 và 19 dứt HÒ, như vậy là sai nhạc…Về lời ca: câu 2 “ Báu kiếm sắc PHÁN…có người ca sắc PHONG. Câu 3: Vào ra luống trông tin NHẠN, có người ca NHÀN.v.v…làm cho ý nghĩa hay của nguyên tác bị sai lệch, mất hay về văn học.
10/ HỎI: Bài Dạ cổ hoài lang và vọng cổ thuộc loại nhạc gì? Tính chất của nó ra sao?
ĐÁP: Bài Dạ cổ hoài lang và vọng cổ ngoài 4 điệu thức: Bắc, Hạ, Nam, Oán…mà nó thuộc loại Oán đặc biệt ( vì oán là chính, song có âm hưởng hơi Nam, Bắc trong thân bài)
(Lời người viết: có người cho vọng cổ thuộc hơi PHA, Có nghĩa là pha trộn nhiều hơi khác nhau )
- Tính chất nhạc vọng cổ: chủ yếu là buồn. Song không não nùng như Nam ai, uất hận như Giang nam. Nó mang tính vừa đau buồn, vừa trỗi dậy, phân trần và có tính lạc quan.
11/ HỎI: Muốn ca cho đúng nội dung bài ca và hay, khi tiếp xúc với bài ca, người ca phải tìm hiểu và luyện tập bài ca như thế nào?
ĐÁP: Người ca muốn ca đúng và hay khi tiếp xúc bài ca phải chú ý
- Tìm hiểu nội dung bài ca buồn hay hận v.v…Nhân vật chủ của bài ca là ai? Thuộc giới nào, giai cấp nào? Lời ca của bài ca nhiều hay ít, chấm phẩy theo luật văn phạm rõ ràng những chữ sai phải sửa v.v…
- Phân nhịp theo số chữ, đúng luật nhạc, phù hợp thể hiện tình cảm theo nội dung bài ca và đúng luật văn phạm
- Luyện tập ca và chỉnh lại nhịp không phù hợp để học thuộc lòng
12/ HỎI: Khi ca phải có phương pháp gì bảo đảm ca đều nhịp và hay?
ĐÁP: Phải giữ nhịp đúng với khi tập. Miệng ca tai nghe đờn để khớp với trường độ nhịp của người đờn. Bản thân phải tự luyện, tự nhịp theo lời ca của mình một cách chủ động có kết hợp với nhịp đờn, không nên phó thác và chạy theo đuôi người đờn.
13/ HỎI: Khi ca phải phát âm thế nào cho đúng và có hiệu quả?
ĐÁP: Điều cần yếu là phải phát âm rõ chữ, tròn âm, không sai chính tả ( nhất là chữ R,TR,S )
- Giọng ca phải vận dụng luật: bổng, trầm, khoan, nhặt theo nội dung bài ca ( nếu ca vọng cổ phải thêm luật: du dương )
- Hơi ca phải dài, đủ sức ca trọn một mệnh đề, câu văn không đứt quãng, dứt câu ca không bị hụt hơi.
14/ HỎI: Khi chuẩn bị ca cần làm động tác gì trước nhứt với dàn đờn?
ĐÁP: Phải nghe, hoặc nhờ đờn đánh lại giai điệu để tìm chữ HÓ và lấy hơi cho đúng chữ HÒ, đảm bảo ca không lạc hơi ( nếu dây đờn không hợp giọng ca như cao quá, thấp quá thì sửa lại)
15/ HỎI: Vì sao người ca bài vọng cổ, mới vô ca đầu câu, xuống chữ HÒ thì người nghe vỗ tay hoan hô?
ĐÁP:Người ca vọng cổ khi xuống HÓ, đã được vỗ tay có nhiều lý do:
- Lời văn hay
- Giọng ca ngọt ngào
- Biết nhả chữ nhặt khoan, trầm bổng rất xúc cảm người nghe
Ngoài việc vỗ tay vì phép lịch sự thưởng công lao động của người ca. Song nếu ca rất hay hoặc rất dở thì tiếng vỗ tay sẽ khác ngay ( sôi nổi kéo dài hay lẹt đẹt chiếu lệ )
16/ HỎI: Khi sắp ca bất cứ bản nhạc gì cũng chỉ lấy cao độ HÒ, nhưng khi ca những bài không phải vọng cổ thì phải làm gì để vô đầu bài ca ấy cho đúng?
ĐÁP: Chữ HÒ là âm chủ của nhạc tài tử. Khi nắm được cao độ HÓ thì tìm trong xứơng âm hệ 5 cung: Hò, Xư, Xang, Xê, Cống ( cả 2 âm phụ Y và PHAN ) mà áp dụng cho chữ nhạc vô đầu bài mình sắp ca. Ví dụ: Lưu thủy trường lấy hơi HÒ, Phú lục lấy hơi U, Bình bán chấn lấy hơi Xang, Cổ bản lấy hơi Xê v.v…
ĐÁP: Cây đờn ghi ta xuất xứ ở nước Tây Ban Nha ( còn gọi là Tây Ban cầm ), được người Việt Nam móc phím lõm để đờn tài tử. Đầu tiên, có người nói là do thầy giáo Tiên ở Rạch giá dùng đờn Măng đô lin tập đờn vọng cổ. Nên sau đó mới dùng đến ghi ta móc phím ( vì đờn măng đô lin và ghi ta giống nhau về sắp phím)
- Cây đờn ghi ta có tiếng kêu trong sắc bén, vang xa. Có âm điệu phong phú. Về tác dụng thì rất rộng, có hòa tấu nhiều cây, nó vẫn nổi trội, nếu một mình nó vẫn đệm cho ca được dễ dàng.
Xưa đờn kìm là chính, ngày nay xu hướng chung cây đờn ghi ta phím lõm là nhạc cụ chính của sân khấu cải lương…
9/ HỎI: Vì sao phải đờn và ca đúng theo nguyên tác bản Dạ cổ hoài lang? Nếu đờn và ca sai sẽ như thế nào? Ví dụ vài chỗ đờn sai, ca sai?
ĐÁP: Phải đờn và ca đúng theo bản gốc Dạ cổ hoài lang vì tôn trọng tính lịch sử của tác phẩm lúc nó ra đời. Hơn nữa nguyên tác rất đúng với luật NHẠC và VĂN HỌC nên không tự tiện đờn ca theo ý mình.
- Ví dụ sai về Nhạc: câu 5,11 và 19 dứt XÀNG, nhưng có nơi lấy chữ nhạc vọng cổ nhịp 16, 32 mà đưa vào như: câu 5 dứt XỀ, câu 11 và 19 dứt HÒ, như vậy là sai nhạc…Về lời ca: câu 2 “ Báu kiếm sắc PHÁN…có người ca sắc PHONG. Câu 3: Vào ra luống trông tin NHẠN, có người ca NHÀN.v.v…làm cho ý nghĩa hay của nguyên tác bị sai lệch, mất hay về văn học.
10/ HỎI: Bài Dạ cổ hoài lang và vọng cổ thuộc loại nhạc gì? Tính chất của nó ra sao?
ĐÁP: Bài Dạ cổ hoài lang và vọng cổ ngoài 4 điệu thức: Bắc, Hạ, Nam, Oán…mà nó thuộc loại Oán đặc biệt ( vì oán là chính, song có âm hưởng hơi Nam, Bắc trong thân bài)
(Lời người viết: có người cho vọng cổ thuộc hơi PHA, Có nghĩa là pha trộn nhiều hơi khác nhau )
- Tính chất nhạc vọng cổ: chủ yếu là buồn. Song không não nùng như Nam ai, uất hận như Giang nam. Nó mang tính vừa đau buồn, vừa trỗi dậy, phân trần và có tính lạc quan.
11/ HỎI: Muốn ca cho đúng nội dung bài ca và hay, khi tiếp xúc với bài ca, người ca phải tìm hiểu và luyện tập bài ca như thế nào?
ĐÁP: Người ca muốn ca đúng và hay khi tiếp xúc bài ca phải chú ý
- Tìm hiểu nội dung bài ca buồn hay hận v.v…Nhân vật chủ của bài ca là ai? Thuộc giới nào, giai cấp nào? Lời ca của bài ca nhiều hay ít, chấm phẩy theo luật văn phạm rõ ràng những chữ sai phải sửa v.v…
- Phân nhịp theo số chữ, đúng luật nhạc, phù hợp thể hiện tình cảm theo nội dung bài ca và đúng luật văn phạm
- Luyện tập ca và chỉnh lại nhịp không phù hợp để học thuộc lòng
12/ HỎI: Khi ca phải có phương pháp gì bảo đảm ca đều nhịp và hay?
ĐÁP: Phải giữ nhịp đúng với khi tập. Miệng ca tai nghe đờn để khớp với trường độ nhịp của người đờn. Bản thân phải tự luyện, tự nhịp theo lời ca của mình một cách chủ động có kết hợp với nhịp đờn, không nên phó thác và chạy theo đuôi người đờn.
13/ HỎI: Khi ca phải phát âm thế nào cho đúng và có hiệu quả?
ĐÁP: Điều cần yếu là phải phát âm rõ chữ, tròn âm, không sai chính tả ( nhất là chữ R,TR,S )
- Giọng ca phải vận dụng luật: bổng, trầm, khoan, nhặt theo nội dung bài ca ( nếu ca vọng cổ phải thêm luật: du dương )
- Hơi ca phải dài, đủ sức ca trọn một mệnh đề, câu văn không đứt quãng, dứt câu ca không bị hụt hơi.
14/ HỎI: Khi chuẩn bị ca cần làm động tác gì trước nhứt với dàn đờn?
ĐÁP: Phải nghe, hoặc nhờ đờn đánh lại giai điệu để tìm chữ HÓ và lấy hơi cho đúng chữ HÒ, đảm bảo ca không lạc hơi ( nếu dây đờn không hợp giọng ca như cao quá, thấp quá thì sửa lại)
15/ HỎI: Vì sao người ca bài vọng cổ, mới vô ca đầu câu, xuống chữ HÒ thì người nghe vỗ tay hoan hô?
ĐÁP:Người ca vọng cổ khi xuống HÓ, đã được vỗ tay có nhiều lý do:
- Lời văn hay
- Giọng ca ngọt ngào
- Biết nhả chữ nhặt khoan, trầm bổng rất xúc cảm người nghe
Ngoài việc vỗ tay vì phép lịch sự thưởng công lao động của người ca. Song nếu ca rất hay hoặc rất dở thì tiếng vỗ tay sẽ khác ngay ( sôi nổi kéo dài hay lẹt đẹt chiếu lệ )
16/ HỎI: Khi sắp ca bất cứ bản nhạc gì cũng chỉ lấy cao độ HÒ, nhưng khi ca những bài không phải vọng cổ thì phải làm gì để vô đầu bài ca ấy cho đúng?
ĐÁP: Chữ HÒ là âm chủ của nhạc tài tử. Khi nắm được cao độ HÓ thì tìm trong xứơng âm hệ 5 cung: Hò, Xư, Xang, Xê, Cống ( cả 2 âm phụ Y và PHAN ) mà áp dụng cho chữ nhạc vô đầu bài mình sắp ca. Ví dụ: Lưu thủy trường lấy hơi HÒ, Phú lục lấy hơi U, Bình bán chấn lấy hơi Xang, Cổ bản lấy hơi Xê v.v…
17/ HỎI: Theo sự hiểu
biết của bạn thì những nghệ sĩ, nhạc sĩ nổi danh đờn ca vọng cổ từ khi có bài
vọng cổ nhịp 8 đến nay gồm có những ai?
ĐÁP: Các nghệ sĩ, nhạc sĩ, nghệ sĩ đờn ca vọng cổ nổi danh từ 1935 đến nay gồm các vị như sau: Lư Hòa Nghĩa, Bảy Cao, Hồng Châu, cô Tư Sạng, Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Thành Công, Thành Được, Thanh Nga…
- Nghệ sĩ Năm Nghĩa, tên thật là Lư Hòa Nghĩa ở Bạc Liêu, lên Sài Gòn ca vọng cổ đầu tiên thu đĩa hát ASIA bài “ Văng vẳng tiếng chuông chùa”, “ Quằng quại gánh nợ đời”, với giọng ngâm dài đầm ấm như xâu chuỗi, âm thanh êm ả, trữ tình, độc đáo.
- Nghệ sĩ Bảy Cao ca vọng cổ “ Viếng mồ bạn”, với giọng ca nam cao bay bổng và sắc sảo rất ngọt ngào.
18/ HỎI: Ai là người đầu tiên sáng tác ra bộ môn cổ nhạc canh tân và giá trị của bộ môn này đối với nhạc cải lương ra sao?
ĐÁP: Soạn giả và đạo diễn Mộng Vân là người đầu tiên sáng tác ra cổ nhạc canh tân với nguyên nhân như sau:
Ông Mộng Vân quê ở Bạc Liêu, là soạn giả, đạo diễn và là chủ gánh hát cải lương cùng tên Mộng Vân. Vào khoảng năm 1940- 1945 loại tuồng Tàu đã không còn ăn khách nữa, ông bèn sáng tác ra hình thức cải lương kiếm hiệp. Dựa truyện cổ La Mã soạn ra cải lương, nhân vật trong vở kiếm hiệp này lạ mắt: mang mặt nạ, đấu dao găm, kiếm.
Các bản nhạc cổ điển không phù hợp tính cách nhân vật kiểu này, nên ông soạn ra lời ca, ông ca cổ nhạc theo kiểu của nhân vật, ông nhờ hai nhạc sĩ đang đờn cho gánh hát của ông là Út Trong và Hai Thơm ký âm theo lời và giọng nhạc để làm thành bản nhạc và đặc tên bản. Tạo ra 1 số bản đủ cho vở kiếm hiệp đó và nhiều vở khác tạo thành nhiều bản nhạc mới, rất ăn khách.
Các đoàn hát cải lương khác học tập làm theo. Tạo thành 1 bộ môn Bắc mới gọi là CỔ NHẠC CANH TÂN có hàng trăm bản phục vụ cho tuồng kiếm hiệp. Ví dụ: tuồng “ kiếm sĩ dơi” v.v…cho đến nay, nhiều bản nhạc cổ nhạc canh tân vẫn còn sử dụng trong sân khấu cải lương và đờn ca tài tử Nam bộ.
19/ HỎI: Những ngôi sao trong phong trào đờn ca tài tử Nam bộ trong tỉnh Bạc Liêu từ những năm 1919- 1975 là những ai?
ĐÁP: Tỉnh Bạc Liêu có các ngôi sao trong phong trào đờn ca tài tử Nam bộ từ những năm 1919- 1975 gồm có: Ông Nhạc Khị ( Lê Tài Khị), Cao Văn Lầu, Mười Khói, Năm Nghĩa ( Lư Hòa Nghĩa), cô Ba Vàm Lẻo, Mộng Vân, Hai Thơm, Trịnh Thiên Tư.
20/ HỎI: Ai sáng tác bản Dạ cổ hoài lang, sáng tác vào năm nào? Bạn hãy ca 16 câu, nguyên tác bài Dạ cổ hoài lang.
ĐÁP: Nhạc sĩ Cao Văn Lầu quê ở Bạc Liêu là người sáng tác bài Dạ cổ hoài lang vào năm 1919.
DẠ CỔ HOÀI LANG
1- Từ là từ phu tướng
2- Báo kiếm sắc phán lên đàng
3- Vào ra luống trông tin nhạn
4- Năm canh mơ màng
5- Em luống trông tin chàng
6- Ôi gan vàng thêm đau
7- Đường dầu xa ong bướm
8- Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
9- Còn đêm luống trông tin bạn
10- Ngày mõi mòn như đá vọng phu
11- Vọng- phu vọng luống trông tin chàng
12- Lòng xin chớ phụ phàng
13- Chàng là chàng có hay
14- Đêm thiếp nằm luống những sầu Tây
15- Biết bao thuở đó đây xum vầy
16- Duyên sắc cầm đừng lac phai
17- Là nguyện cho chàng
18- Đặng chữ an bình an
19- Trở lại gia đàng
20- Cho én nhạn hiệp đôi.
THAY LỜI KẾT
Chúng ta rất tự hào và biết ơn các vị tiền bối đã có công sáng lập ra “ MỘT LÂU ĐÀI NGHỆ THUẬT ĐỒN CA TÀI TỬ NAM BỘ “ nguy nga để chúng ta thừa hửơng. Và rất biết ơn những nhạc sĩ, nghệ sĩ, nghệ nhân đi trước đã xứng đáng là vai trò rường cột; Người thì sáng tác thêm bản nhạc, bài ca; Người thì sáng tạo ra thêm nhiều nhạc khí; Người thì nghiên cứu khoa học, tìm ra “ nguyên lý- niêm luật, quy tắc “…cho nghệ thuật có đủ hành trang bước vào rừng hoa nghệ thuật không đến nỗi bỡ ngỡ.
Song nghệ thuật là cái ĐỈNH KHÔNG CÙNG. Chúng ta cùng nổ lực tìm hiểu và nâng lên cho mình một sự hiểu biết cao hơn để tiếp tục sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của tiền nhân. Muốn được vậy, chúng ta phải nắm chắc những gì đã có: Học và trau chuốt bài bản đã có, thông hiểu các kiến thức đã có để làm đuốc soi sáng cho thực hành.
Hãy chấm dứt quan niệm làm nghệ thuật với lòng đam mê nhất thời.
Hãy cũng cố nhận thức làm nghệ thuật với lý tưởng cao đẹp.
Để thay lời kết, hy vọng rằng khi gấp sách lại, mỗi nghệ nhân đờn ca tài tử Nam bộ đều biết “ CHÚNG TA SẼ LÀM GÌ ? “ .
ĐÁP: Các nghệ sĩ, nhạc sĩ, nghệ sĩ đờn ca vọng cổ nổi danh từ 1935 đến nay gồm các vị như sau: Lư Hòa Nghĩa, Bảy Cao, Hồng Châu, cô Tư Sạng, Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Thành Công, Thành Được, Thanh Nga…
- Nghệ sĩ Năm Nghĩa, tên thật là Lư Hòa Nghĩa ở Bạc Liêu, lên Sài Gòn ca vọng cổ đầu tiên thu đĩa hát ASIA bài “ Văng vẳng tiếng chuông chùa”, “ Quằng quại gánh nợ đời”, với giọng ngâm dài đầm ấm như xâu chuỗi, âm thanh êm ả, trữ tình, độc đáo.
- Nghệ sĩ Bảy Cao ca vọng cổ “ Viếng mồ bạn”, với giọng ca nam cao bay bổng và sắc sảo rất ngọt ngào.
18/ HỎI: Ai là người đầu tiên sáng tác ra bộ môn cổ nhạc canh tân và giá trị của bộ môn này đối với nhạc cải lương ra sao?
ĐÁP: Soạn giả và đạo diễn Mộng Vân là người đầu tiên sáng tác ra cổ nhạc canh tân với nguyên nhân như sau:
Ông Mộng Vân quê ở Bạc Liêu, là soạn giả, đạo diễn và là chủ gánh hát cải lương cùng tên Mộng Vân. Vào khoảng năm 1940- 1945 loại tuồng Tàu đã không còn ăn khách nữa, ông bèn sáng tác ra hình thức cải lương kiếm hiệp. Dựa truyện cổ La Mã soạn ra cải lương, nhân vật trong vở kiếm hiệp này lạ mắt: mang mặt nạ, đấu dao găm, kiếm.
Các bản nhạc cổ điển không phù hợp tính cách nhân vật kiểu này, nên ông soạn ra lời ca, ông ca cổ nhạc theo kiểu của nhân vật, ông nhờ hai nhạc sĩ đang đờn cho gánh hát của ông là Út Trong và Hai Thơm ký âm theo lời và giọng nhạc để làm thành bản nhạc và đặc tên bản. Tạo ra 1 số bản đủ cho vở kiếm hiệp đó và nhiều vở khác tạo thành nhiều bản nhạc mới, rất ăn khách.
Các đoàn hát cải lương khác học tập làm theo. Tạo thành 1 bộ môn Bắc mới gọi là CỔ NHẠC CANH TÂN có hàng trăm bản phục vụ cho tuồng kiếm hiệp. Ví dụ: tuồng “ kiếm sĩ dơi” v.v…cho đến nay, nhiều bản nhạc cổ nhạc canh tân vẫn còn sử dụng trong sân khấu cải lương và đờn ca tài tử Nam bộ.
19/ HỎI: Những ngôi sao trong phong trào đờn ca tài tử Nam bộ trong tỉnh Bạc Liêu từ những năm 1919- 1975 là những ai?
ĐÁP: Tỉnh Bạc Liêu có các ngôi sao trong phong trào đờn ca tài tử Nam bộ từ những năm 1919- 1975 gồm có: Ông Nhạc Khị ( Lê Tài Khị), Cao Văn Lầu, Mười Khói, Năm Nghĩa ( Lư Hòa Nghĩa), cô Ba Vàm Lẻo, Mộng Vân, Hai Thơm, Trịnh Thiên Tư.
20/ HỎI: Ai sáng tác bản Dạ cổ hoài lang, sáng tác vào năm nào? Bạn hãy ca 16 câu, nguyên tác bài Dạ cổ hoài lang.
ĐÁP: Nhạc sĩ Cao Văn Lầu quê ở Bạc Liêu là người sáng tác bài Dạ cổ hoài lang vào năm 1919.
DẠ CỔ HOÀI LANG
1- Từ là từ phu tướng
2- Báo kiếm sắc phán lên đàng
3- Vào ra luống trông tin nhạn
4- Năm canh mơ màng
5- Em luống trông tin chàng
6- Ôi gan vàng thêm đau
7- Đường dầu xa ong bướm
8- Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
9- Còn đêm luống trông tin bạn
10- Ngày mõi mòn như đá vọng phu
11- Vọng- phu vọng luống trông tin chàng
12- Lòng xin chớ phụ phàng
13- Chàng là chàng có hay
14- Đêm thiếp nằm luống những sầu Tây
15- Biết bao thuở đó đây xum vầy
16- Duyên sắc cầm đừng lac phai
17- Là nguyện cho chàng
18- Đặng chữ an bình an
19- Trở lại gia đàng
20- Cho én nhạn hiệp đôi.
THAY LỜI KẾT
Chúng ta rất tự hào và biết ơn các vị tiền bối đã có công sáng lập ra “ MỘT LÂU ĐÀI NGHỆ THUẬT ĐỒN CA TÀI TỬ NAM BỘ “ nguy nga để chúng ta thừa hửơng. Và rất biết ơn những nhạc sĩ, nghệ sĩ, nghệ nhân đi trước đã xứng đáng là vai trò rường cột; Người thì sáng tác thêm bản nhạc, bài ca; Người thì sáng tạo ra thêm nhiều nhạc khí; Người thì nghiên cứu khoa học, tìm ra “ nguyên lý- niêm luật, quy tắc “…cho nghệ thuật có đủ hành trang bước vào rừng hoa nghệ thuật không đến nỗi bỡ ngỡ.
Song nghệ thuật là cái ĐỈNH KHÔNG CÙNG. Chúng ta cùng nổ lực tìm hiểu và nâng lên cho mình một sự hiểu biết cao hơn để tiếp tục sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của tiền nhân. Muốn được vậy, chúng ta phải nắm chắc những gì đã có: Học và trau chuốt bài bản đã có, thông hiểu các kiến thức đã có để làm đuốc soi sáng cho thực hành.
Hãy chấm dứt quan niệm làm nghệ thuật với lòng đam mê nhất thời.
Hãy cũng cố nhận thức làm nghệ thuật với lý tưởng cao đẹp.
Để thay lời kết, hy vọng rằng khi gấp sách lại, mỗi nghệ nhân đờn ca tài tử Nam bộ đều biết “ CHÚNG TA SẼ LÀM GÌ ? “ .



0 nhận xét:
Post a Comment