Ø Thứ nhất, nguồn gốc hình thành:
- Khi nói đến Cải Lương, người ta thường nghĩ ngay tới Vọng Cổ. Mọi người thường nghĩ rằng Vọng cổ chính là Cải lương. Đây hoàn toàn không đúng, Cải Lương là cả một nghệ thuật sân khấu còn Vọng cổ chỉ là một bài bản bên cạnh các bài bản khác như ‘ nhứ lý-nhì ngâm- tam nam- tứ oán…..” trong Cải Lương mà thôi.
- Bài Vọng cổ phát xuất từ bài Dạ Cổ Hoài Lang của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu. (nhưng đang có nhiều tranh cãi về lời ca và nhạc lí của bài DCHL, đang “hạ hồi phân giải”). Bài DCHL gồm có 20 câu, mỗi câu 2 nhịp hay còn gọi là vọng cổ nhịp đôi. (Chữ Dạ Cổ Hoài Lang có nghĩa là đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chàng. Còn 2 chữ vọng cổ thì vọng là nhớ đến, cổ là tiếng trống, gần như là tiếng trống gợi nhớ.) Về sau phát triển thành vọng cổ nhịp 4, rồi nhịp 8, nhịp 16 , nhịp 32, nhịp 64, nhịp 128 ….. nhưng thịnh hành và phổ biến nhất và vọng cổ nhịp 32.
- Bài vọng cổ gồm 20 câu. Nhưng vì từ câu 7 trở đi có sự lặp lại, nên sân khấu Cải Lương chỉ dùng 6 câu đầu tiên và một vài câu đặc biệt như 15 16 (nghe giống như 4, 6) hay 14, 15 ( giống câu 4,5 nhưng dứt hò) hay câu 20 (giống như câu 5 thêm 8 nhịp của câu 6). Nhưng do nhu cầu trình diễn nên 6 câu vọng cổ chỉ còn 4 câu là 1 2 5 6 và xu hướng hiện nay là chỉ có 3 câu như 1 2 6. Và đương nhiên sẽ có các bài bản nhỏ xen vào mỗi câu tùy theo người sáng tác.
· Cấu trúc:
HÒ 16, HÒ 20, XÊ 24( Song lang), XANG 28, CỐNG 32
Câu 1 chỉ có 16 nhịp và trước nhịp 16 thường là ngâm thơ, nói lối hoặc các bài bản nhỏ như lý con sáo….
· Lời ca :
§ Trước hò 16 thường là nói lối, ngâm thơ…..
§ Hò 16-20 đi liền nhau, luôn luôn là dấu huyền.
§ Hò 20 chỉ có một câu mà thôi.
§ Xê 24 luôn luôn không dấu, gõ song lang.
§ Xang 28 dấu gì cũng được, không bị chi phối bởi luật bằng trắc, và cũng không thống nhất nên có thể là XÊ hay XANG.
§ Cống 32: phải là vần trắc
§ Hò 16-20 đi liền nhau, luôn luôn là dấu huyền.
§ Hò 20 chỉ có một câu mà thôi.
§ Xê 24 luôn luôn không dấu, gõ song lang.
§ Xang 28 dấu gì cũng được, không bị chi phối bởi luật bằng trắc, và cũng không thống nhất nên có thể là XÊ hay XANG.
§ Cống 32: phải là vần trắc
Trời ơi bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiễn nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch …Thu ….Hà (HÒ 16). Bạn tình ơi đừng hoài công mòn mõi đợi chờ.(HÒ 20). Hãy gọi tên anh trong những chiều sương lạnh khi cánh nhạn bay về cuối nẽo trời xa (XÊ 24). Hay những lúc canh khuya tựa rèm châu ngắm ánh trăng tà (XANG 28). Nàng hãy nhớ đến tháng năm này có một người yêu đã vùi thây giữa vùng cát trắng.( CỐNG 32).
- Vọng cổ câu 2:
XỀ 4, XANG 8, XANG 12, HÒ 16, HÒ 20, XÊ 24(SL), XÊ 28, XANG 32
Câu vọng cổ bắt đầu luôn luôn là XỀ 4 ( ngoại từ câu 1& 4 chỉ có 16 nhịp).
· Lời ca:
§ Từ Xề 4 cho đến Xang 12 nhạc đệm, luật bằng trắc k quan trọng.
§ Hò 16-20 đi liền nhau nên cấu trúc giống như câu 1 kể từ nhịp 16.
§ Xê 24 luôn luôn không dấu, gõ song lang.
§ Xê 28 dấu gì cũng được.
§ Xang 32 không dấu.
Thí dụ : câu 2 trong bài Mùa Hoa Đào
Đi bên em giữa mùa xuân lộng gió em có nghe chăng trời đất cũng đa tình.(Hò 16) như thầm thương chuyện của đôi mình.( Hò 20). Anh trai miền nam phải lòng cô gái bắc bởi giọng nói ngọt ngào e ấp cánh đào tươi.(Xê 24). Tôi mơ màng dệt mộng vào mơ kẻ bắc người nam đâu ngờ hạnh ngộ (Xê 28). Hà Nội tôi yêu nâng niu từng con phố gom góp vào lòng kỉ niêm mới vừa quen. (Xang 32).
Một điểm đáng chú ý ở đây là nếu chữ cuối của câu chót tận cùng là HÒ 32 thì câu hát sẽ thành Vọng cổ câu 4, hoặc bằng XỀ 32 thì thành Vọng cổ câu 5.
· Cấu trúc:
XỀ 4, XANG 8, XANG 12, CỐNG 16, XANG 20, CỐNG 24(SL), XÊ or XANG 28, HÒ 32
· Lời ca :§ Từ Xề 4 cho đến Xang 12 nhạc đệm, luật bằng trắc k quan trọng.
§ Cống 16 k nhất thiết phải vần trắc, dễ ca nhất là k dấu.
§ Xang or Xê 28 dấu gì cũng được.( Xê và Xang trong nhịp 20 và 28 k bị chi phối bởi luật bằng trắc và k thống nhất nên có thể là XÊ or XANG)
§ Cống 24(SL) không dấu nên câu 3 giọng ca ngang ngang, khó ca.
§ Hò 32 phải là dấu huyền.
- Vọng cổ câu 4:
HÒ 16, HÒ 20, XÊ 24( Song lang), XANG 28, HÒ 32
· Lời ca : luật bằng trắc giống như câu 1 :
§ Trước hò 16 thường là nói lối, ngâm thơ…..
§ Hò 16-20 đi liền nhau, luôn luôn là dấu huyền.
§ Hò 20 chỉ có một câu mà thôi.
§ Xê 24 luôn luôn không dấu, gõ song lang.
§ Xang 28 dấu gì cũng được, không bị chi phối bởi luật bằng trắc, và cũng không thống nhất nên có thể là XÊ hay XANG.
§ Hò 32: luôn luôn dấu huyền.
Tóm tắt cấu tạo và âm luật câu 1 và câu 4 :
Câu 1 : HÒ 16, HÒ 20, XÊ 24( Song lang), XANG 28, CỐNG 32
Câu 4 : HÒ 16, HÒ 20, XÊ 24( Song lang), XANG 28, HÒ 32
· Cấu trúc:
· Lời ca : luật bằng trắc như câu 1 từ Hò 16 tới Xê or Xang 28
§ Từ Xề 4 cho đến Hò 12 nhạc đệm, luật bằng trắc k quan trọng.
§ Hò 16-20 luôn luôn là dấu huyền.
§ Xê 24 luôn luôn không dấu, gõ song lang.
§ Xang or Xê 28 dấu gì cũng được.
§ Xề 32 phải là dấu huyền, nhưng khác dấu huyền của Hò .
- Vọng cổ câu 6 :
XỀ 4, XÊ 8, XANG 12, CỐNG 16, XÊ or XANG 20, XỀ 24(SL), XÊ 28, HÒ 32.
· Lời ca:§ Từ Xề 4 cho đến Xang 12 nhạc đệm, luật bằng trắc k quan trọng.
§ Cống 16 k nhất thiết phải vần trắc, dễ ca nhất là k dấu.
§ Xang 20 dấu gì cũng được.
§ Xề 24(SL) phải là dấu huyền, giống Xề 32 của câu 5.
§ Xê 28 dấu gì cũng được.
§ Hò 32 không có dấu, là hò duy nhất k có dấu.
Bài viết này nếu có gì sai sót xin mọi người góp ý !!
Thân .



0 nhận xét:
Post a Comment