Thursday, December 11, 2014

DANH CẦM BA CHỘT- LÊ VĂN CHỘT - LÊ VĂN TÚC

DANH CẦM BA CHỘT- LÊ VĂN CHỘT - LÊ VĂN TÚC
Là người con trai duy nhất của Nhạc Khị, từ thuở nhỏ, Ba Chột đã nổi danh là thần đồng cổ nhạc, chưa đến tuổi thành niên đã trở thành nhạc sĩ tài ba, tiếng tăm lừng lẫy vùng đất Tây Nam bộ. Ngoài 18 sáng tác về bài bản cổ nhạc, ông còn để lại cho đời một sản phẩm vô giá, đó là chiếc đàn sến ba dây với cách đàn đặc biệt.

Theo những người lớn tuổi ở Bạc Liêu kể lại, dù là nhạc sư rất nổi tiếng nhưng nhà Nhạc Khị lại rất nghèo. Vì tàn tật nên mọi sinh hoạt gia đình ông đều trông cậy vào vợ - bà Lê Thị Hai - trong việc mua bán rau cải ở chợ Bạc Liêu. Khi mang thai Ba Chột gần đến ngày sinh, trong một chuyến đò ra chợ, gặp mưa to gió lớn, bà trợt chân té xuống sông. Tuy bơi lội giỏi, nhưng do gần ngày sinh sức khỏe kém, bà cố gắng lội vào bờ. Suốt đêm hôm đó bà mê sảng, mơ thấy đang chèo xuồng gặp mưa to gió lớn, chiếc xuồng lật. Cố lội vào gần đến bờ, bà nghe tiếng la ú ớ, quay tìm thì thấy một bé trai đang chới với giữa dòng. Bất chấp nguy hiểm, bà cứu được đứa bé bị chột mắt này, trên cổ đeo món đồ chơi mang hình dáng chiếc đàn ba dây, thân có ba khía tròn như chiếc hoa mai sáu cánh. Khi đứa bé nhoẻn miệng cười, giữa sông vang lên tiếng nói: “Ta là Thủy thần, thấy ngươi hiền lành, lại có tánh thương người, nên cho ngươi đứa bé, mai sau nó làm rạng rỡ tổ tông”. Tỉnh giấc chiêm bao, chẳng mấy chốc bà sinh đứa bé trai. Bà kể giấc mơ và nói với chồng: “Con gái lớn của mình tên Sang mà chẳng đem lại gì tốt đẹp, thì đứa con này mình đặt đại tên Chột theo chiêm bao, biết đâu...”. Ngoài câu chuyện truyền khẩu trên, còn có người nói rằng: Khi đứa bé ra đời, gia đình Nhạc Khị rất túng thiếu nên đặt tên con là Túc, nghĩa là đủ. Ông vốn là người Triều Châu, nên Túc được phát âm giống giống “chọt” hoặc “chột”, vì vậy mới có tên Chột.

Cả hai giai thoại trên đều đúng, vì tên họ thường dùng của ông là Lê Văn Chột, trên bia mộ cũng thế, còn các loại giấy tờ tùy thân đều ghi Lê Văn Túc. Ngoài tên ra, năm sinh của Ba Chột cũng có nhiều rắc rối. Có người nói ông sinh năm 1901 hoặc 1902, có người nói 1907. Thực ra ông vốn tuổi Quý Mão (1903), nhưng khi làm giấy căn cước không biết sao lại ghi là 1907. Khi nhận giấy ông mới phát hiện, nhưng ngại thủ tục phiền phức nên không làm lại.

Bởi nhà nghèo nên từ thuở ấu thơ, hằng ngày Ba Chột đều phải giúp mẹ và chị trong việc buôn bán, bếp núc, giặt giũ và nhiều công việc cực nhọc khác. Chính hoàn cảnh sống khắc nghiệt đó đã hun đúc cho ông nhiều nghị lực vượt qua những sóng gió của cuộc đời để trở thành một nhạc sĩ tài danh. Vốn được trời cho cái trí thông minh xuất chúng, học đâu nhớ đó, lại được cha hết lòng chỉ dạy, nên năm vừa tròn mười tuổi, ông đã đàn đủ ba Nam, sáu Bắc, đủ sức hòa tấu cùng những nhạc sĩ lớn tuổi. Người bạn tâm đắc nhất của ông là Sáu Lầu (Cao Văn Lầu). Hai người rất hợp tính nên thường xuyên hòa tấu, luyện ngón với nhau. Có lẽ nhờ lý do này nên khi hai bản Liêu giang (của Ba Chột) và Dạ cổ hoài lang (của Sáu Lầu) ra đời đã có nhiều điểm tương đồng.

Vốn là người có số đào hoa nên thời thanh xuân ông có rất nhiều người yêu. Từ đó, xuất hiện lắm câu chuyện tình ly kỳ, hấp dẫn. Nhưng người vợ của ông - bà Thái Thị Phụng, người Bạc Liêu - thì do cha mẹ hai bên đính ước. Hai vợ chồng ông có ba người con: Lê Thị Kim Hồng, Lê Văn Em và Lê Phát Hòa. Cả ba người đều nối nghiệp ông, trở thành diễn viên cải lương Nam bộ. Riêng Lê Phát Hòa còn tham gia cả ngành điện ảnh, đã đóng một số phim ở Việt Nam.

Là người con hiếu thảo, Ba Chột phụng dưỡng kỹ càng cha mẹ, coi sóc mọi việc trong nhà, nhất là khi cô Hai Sang lấy chồng. Do cha bị dị tật đi đứng khó khăn nên ông phải túc trực ngày đêm đỡ đần cha trong mọi trường hợp. Ngoài ra, ông còn thay cha hướng dẫn những người đến học đàn. Có rất nhiều người tuy mang danh học trò Nhạc Khị nhưng đa số đều do Ba Chột tận tình hướng dẫn. Cũng bởi hoàn cảnh này nên ông rất ít cộng tác với các đoàn hát, thậm chí cả đời ông hiếm khi rời khỏi Bạc Liêu. Nhưng sự nghiệp của ông thì vượt ra khỏi địa giới này. Chỉ tính riêng số lượng sáng tác phẩm cổ nhạc của ông cũng đã là một kho tàng vô giá. Ngay từ những năm chưa đến tuổi hai mươi, ông đã cùng các bạn đồng môn tham gia sáng tác theo chủ đề “Chinh phụ vọng chinh phu” do cha ông hướng dẫn. Ông đã sáng tác một nhạc phẩm tuyệt vời, có lẽ nó thơ mộng và êm đềm như dòng sông Bạc Liêu nên sau đó được cha ông đặt cho cái tên Liêu giang. Bản này gồm 16 câu nhịp 4, chính thức ra đời vào năm 1919 (sau bản Dạ cổ hoài lang 1 năm). Lúc đầu bản Liêu giang được trình bày bằng dây bắc, nhưng sau đó ít lâu ông lại sáng tác thêm bản Liêu giang dây oán cũng gồm 16 câu 4 nhịp. Từ đó về sau, nhạc sĩ Ba Chột còn liên tục cho ra đời các bản:
- Liêu giang (1919)
- Ngũ quan (1920);
- Lý con sáo (1921);
- Mẫu đơn, Thuấn hoa (1923);
- Huỳnh ba (1925);
- Cảnh xuân (1929);
- Hòa duyên (1930);
- Vạn thọ (1935);
- Tam quan nguyệt (1938);
- Lưỡng long, Nhật nguyệt (1939);
- Tứ bửu Liêu thành (1940).
Ngoài ra, ông còn soạn lục và canh tân các bản:
- Xuân nữ, Tẩu mã (1924);
- Kim tiền bản, Ngự giá (1926)
- Tô Vũ mục dương (1936).
Tất cả 18 bản đều được sử dụng rất rộng rãi trong giới đàn ca tài tử và sân khấu cải lương từ trước đến nay, nhất là các bản Liêu giang, Xuân nữ, Lý con sáo, Kim tiền bản đã được phổ biến từ Nam chí Bắc.

Không chỉ là tác giả của nhiều giai điệu, nhạc phẩm mà nhạc sĩ Ba Chột còn là người sáng tạo ra nhạc cụ, đó là chiếc đàn sến ba dây đang được sử dụng hiện nay. Để có chiếc đàn này, ông đã bỏ công một thời gian rất dài và đã nhiều phen thất bại. Thân đàn được làm bằng gỗ vông đồng, có hình dáng chiếc hoa mai 6 cánh, cán làm bằng lõi cây tra. Toàn bộ chiếc đàn được làm bằng vật liệu địa phương, trừ ba chiếc dây nilon là phải mua. Sau khi hoàn thành, ông tiếp tục sáng tạo ra phương pháp đặc biệt để sử dụng. Chính chiếc đàn kỳ lạ này đã làm cho tên tuổi nhạc sĩ Ba Chột một thời vang dội...

Ngày Thanh minh, 12-3 năm Quý Mão (5-4-1963), nhạc sĩ Ba Chột lìa đời, chiếc đàn ba dây của ông để lại cho sư đệ là nhạc sĩ Năm Nhỏ (Trần Tấn Hưng). Nhạc sĩ Năm Nhỏ rất trân trọng chiếc đàn này, xem như một vật kỷ niệm rất quý báu, nên bảo quản rất kỹ. Nhưng, đây chỉ là vật làm bằng gỗ thường, nên dù ông cố gắng gìn giữ cũng không thể tồn tại mãi với thời gian: Năm 1985, khi gia đình ông khui thùng thì chiếc đàn đã mục nát tự bao giờ! Phỏng theo kiểu dáng của nó, người ta làm lại chiếc đàn khác, nhưng vì cách sử dụng rất khó, đòi hỏi công phu luyện tập rất lớn, nên hiện nay loại đàn sến ba dây này không được phổ biến cho lắm, dù nó là nhạc cụ tuyệt vời, sản phẩm tinh kỳ của người nhạc sĩ tài ba đất Bạc Liêu.

Nhạc sĩ Ba Chột thực sự đã có những đóng góp rất lớn, không những cho giới cổ nhạc Bạc Liêu, mà còn cho cả nền cổ nhạc Nam bộ. Có thể nói mỗi tác phẩm của ông đều là tinh hoa nghệ thuật rất thích dụng cho đàn ca tài tử và sân khấu cải lương. Thế mà từ trước đến giờ chưa có bài viết nào về cuộc đời và sự nghiệp của ông, chưa có một đánh giá cụ thể nào về công lao của ông, cả mồ mả của ông sau chùa Vĩnh Phước An (gần khu di tích Cao Văn Lầu) cũng chỉ là nấm đất hoang, nếu không được người trong chùa chỉ điểm có lẽ người ta sẽ không bao giờ dám nghĩ đây là ngôi mộ của một nghệ sĩ đã từng một thời vang bóng.

Trần Phước Thuận

0 nhận xét:

Post a Comment